Dấu ấn người tướng Quyết tử trong chiến thắng Tây Nguyên
Thượng tướng Vũ Lăng là vị tướng trưởng thành từ đội quân “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, từng tham gia nhiều chiến dịch lớn và để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử quân sự Việt Nam. Đặc biệt, trên chiến trường Tây Nguyên năm 1975, ông góp phần quan trọng vào việc xây dựng thế trận, thực hiện đòn điểm huyệt Buôn Mê Thuột, tạo bước ngoặt dẫn tới thắng lợi mùa xuân năm 1975.
Thượng tướng Vũ Lăng là một vị tướng tiêu biểu của Quân đội nhân dân Việt Nam, người đã đi qua nhiều chiến trường lớn và để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử quân sự dân tộc. Từ người chiến sĩ từng đọc lời thề “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” trong những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến, ông từng bước trưởng thành thành một vị tướng tài năng, có nhiều đóng góp quan trọng trong các cuộc kháng chiến và đặc biệt là trong Chiến dịch Tây Nguyên năm 1975.
Vũ Lăng sinh năm 1921, quê ở xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Là người thông minh, hiếu học, ông sớm tham gia cách mạng từ trước năm 1945. Tháng 11 năm 1945, khi thực dân Pháp gây hấn ở Sài Gòn rồi mở rộng chiến tranh ra toàn miền Nam và Nam Trung Bộ, Vũ Lăng tham gia đoàn quân Nam tiến. Đơn vị do ông chỉ huy chiến đấu tại chiến trường Khu 6, thuộc tỉnh Bình Thuận. Trong quá trình chiến đấu, ông lập nhiều thành tích và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương vào tháng 2 năm 1947.
Sau đó, Vũ Lăng được điều động ra Bắc và lần lượt đảm nhiệm nhiều chức vụ chỉ huy quan trọng. Ông từng là Trung đoàn phó Trung đoàn Thủ đô, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 98 trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, rồi Tham mưu trưởng Sư đoàn 316 vào tháng 5 năm 1954. Sau khi hòa bình lập lại, năm 1956, ông được cử sang Liên Xô học tại Học viện Vô-rô-xi-lốp. Trong kháng chiến chống Mỹ, ông tiếp tục được giao nhiều nhiệm vụ quan trọng, góp phần vào công tác chỉ huy chiến đấu trên nhiều mặt trận, nghiên cứu khoa học quân sự phục vụ chiến đấu và đào tạo cán bộ quân sự.
Một dấu mốc đặc biệt trong cuộc đời binh nghiệp của Vũ Lăng là thời kỳ Toàn quốc kháng chiến bùng nổ vào tháng 12 năm 1946. Khi đó, ông vừa từ mặt trận Nha Trang ra Bắc và được phân công làm Ủy viên tác chiến của Trung đoàn Thủ đô, tham gia chiến đấu bảo vệ Bắc Bộ Phủ. Trong vòng vây của địch, các chiến sĩ Quyết tử quân của Trung đoàn Thủ đô đã chiến đấu anh dũng suốt hai tháng để bảo vệ Thủ đô Hà Nội.
Ngày 14 tháng 1 năm 1947, tại rạp Chuông Vàng ở Hà Nội, trong buổi lễ tuyên thệ của Trung đoàn Thủ đô, Vũ Lăng với cương vị Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 103 cùng hai chiến sĩ khác được cử lên nhận thanh kiếm quyết tử và đọc lời thề “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”. Lời thề ấy thể hiện ý chí sắt đá của những người lính quyết sống chết bảo vệ Thủ đô, khẳng định rằng khi người chiến sĩ còn đứng vững, Hà Nội sẽ không bao giờ mất.
Trong những ngày tháng chiến đấu quyết tử ấy, Vũ Lăng cùng đồng đội đã nêu cao tinh thần dũng cảm, kiên cường. Sau đó, theo mệnh lệnh cấp trên, ông cùng Ban chỉ huy Tiểu đoàn và Trung đoàn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ dẫn hơn 2.500 đồng bào và chiến sĩ ra khỏi Thủ đô an toàn giữa vòng vây giặc Pháp qua ngả đường gầm cầu Long Biên, lên chiến khu tiếp tục kháng chiến. Hình ảnh người chiến sĩ Quyết tử Vũ Lăng từ đó trở thành một tấm gương sáng trong những ngày đầu toàn dân kháng chiến.
Khi lên chiến khu, Vũ Lăng được cử làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 54 thuộc Trung đoàn Thủ đô. Ông chỉ huy đơn vị tham gia nhiều trận đánh, trong đó có các trận Sông Lô, Đại Bục. Trận hạ đồn Đại Bục năm 1949 là một chiến công lớn của Trung đoàn Thủ đô trong dịp sinh nhật Bác Hồ. Đến năm 1953, Vũ Lăng được cử làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 98 thuộc Đại đoàn 316 trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Trung đoàn 98 do ông chỉ huy đã đánh chiếm đồi C1 và C2, trong đó trận ác chiến trên đồi C1 kéo dài suốt 31 ngày đêm mới giành được thắng lợi.
Trong trận chiến ác liệt ấy, Trung đoàn trưởng Vũ Lăng trực tiếp cầm tiểu liên lao lên cứ điểm cùng chiến sĩ. Ông luôn sâu sát từng chiến sĩ, nắm chắc từng mét hầm hào, tìm phương án tiêu diệt từng ụ súng, từng ổ đề kháng của địch. Ở ông thể hiện rõ phẩm chất của một người chỉ huy biết tiết kiệm máu xương đồng đội, biết tạo dựng chiến thắng bằng trí tuệ, bản lĩnh và nghệ thuật quân sự.
Nhắc đến Thượng tướng Vũ Lăng không thể không nhắc đến thời kỳ ông làm Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên năm 1974, Phó tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên và Tư lệnh Quân đoàn 3 năm 1975. Đây là giai đoạn then chốt khi quân ta mở Chiến dịch Tây Nguyên với đòn điểm huyệt Buôn Mê Thuột, làm rung chuyển toàn bộ chiến trường và tạo bước ngoặt quyết định dẫn tới Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Sau Hiệp định Paris năm 1973, Mặt trận Tây Nguyên luôn được Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đặc biệt quan tâm. Việc điều Vũ Lăng vào chiến trường Tây Nguyên đã tạo điều kiện để ông thể hiện tư duy quân sự chiến lược xuất sắc, nhất là trong tổ chức các chiến dịch lớn hiệp đồng quân binh chủng. Từ kinh nghiệm chiến đấu, chỉ huy và học tập quân sự bài bản, ông hiểu rằng muốn giành thắng lợi lớn phải biết đánh vào nơi địch không ngờ tới, đánh thần tốc, liên hoàn, dùng một trận then chốt để mở ra chuỗi thắng lợi tiếp theo.
Trong tổ chức phương án tác chiến Chiến dịch Tây Nguyên, Vũ Lăng chủ trương tìm mọi cách nhử địch về Kon Tum và Pleiku, hãm chúng ở đó để tạo sơ hở tại Buôn Mê Thuột. Khi thời cơ xuất hiện, quân ta sẽ đột phá nhanh, tiêu diệt địch và làm chủ thị xã trong thời gian ngắn nhất, sau đó phát triển đánh chiếm Gia Nghĩa, Phú Bổn, mở rộng địa bàn và tạo bàn đạp tiến công các hướng khác. Tư duy ấy thể hiện rõ nghệ thuật lập thế trận chiến dịch: chia cắt, vây hãm, nghi binh, bí mật, đột phá và tiến công liên hoàn.
Trong ký ức của Trung tướng Khuất Duy Tiến, Vũ Lăng là một trong những người thầy trong chiến trận. Ông được đánh giá là người có tư duy tổ chức chiến dịch hiệp đồng quân binh chủng sâu sắc, góp phần quan trọng vào thế trận Tây Nguyên cùng các tướng lĩnh như Hoàng Minh Thảo, Đặng Vũ Hiệp, Nguyễn Quốc Thước, Nguyễn Năng và nhiều cán bộ chỉ huy khác. Những chiến công vang dội của Quân đoàn 3 trong mùa xuân 1975 có dấu ấn đậm nét từ những bộ óc quân sự xuất sắc của Mặt trận Tây Nguyên, trong đó có Thượng tướng Vũ Lăng.
Thắng lợi của Chiến dịch Tây Nguyên, mà then chốt là đòn tiến công Buôn Mê Thuột, đã cho thấy tài năng quân sự đặc biệt của các vị tướng chỉ huy, trong đó có Vũ Lăng. Do am hiểu sâu sắc chiến trường Tây Nguyên và binh lực của địch, quân ta đã thực hiện kế sách lừa địch, dụ địch, đánh vào nơi yếu nhất của đối phương, chiếm Buôn Mê Thuột trong thời gian rất ngắn, khiến toàn bộ Tây Nguyên rung chuyển. Sau đó, quân ta thần tốc phát triển tiến công, giải phóng Pleiku, Kon Tum, buộc địch phải rút khỏi Tây Nguyên trong thế hỗn loạn.
Cuộc rút chạy của địch càng trở nên rối loạn khi bộ đội ta truy kích, dùng pháo đánh địch trên đường số 19 từ Pleiku về Quy Nhơn và đường số 7 từ Phú Bổn về Phú Yên. Quân đoàn 2 ngụy mất kiểm soát hoàn toàn, còn bộ máy chỉ huy của đối phương rơi vào thế bị động, hoang mang. Từ thắng lợi Tây Nguyên, cục diện chiến trường thay đổi nhanh chóng, tạo điều kiện để quân và dân ta tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Sau chiến tranh, khi đảm nhiệm cương vị Giám đốc Học viện Lục quân, Thượng tướng Vũ Lăng tiếp tục đóng góp vào công tác nghiên cứu, tổng kết nhiều chiến dịch lớn, đặc biệt là Chiến dịch Tây Nguyên. Từ thực tiễn chỉ huy chiến đấu, ông góp phần truyền lại kinh nghiệm quân sự quý báu cho các thế hệ cán bộ sau này.
Hành trình của Thượng tướng Vũ Lăng, từ người chiến sĩ đọc lời thề quyết tử bảo vệ Thủ đô đến vị tướng góp phần chỉ huy Chiến dịch Tây Nguyên, là một hành trình đặc biệt trong lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam. Cuộc đời ông thể hiện bản lĩnh, trí tuệ, sự quyết đoán và lòng trung thành tuyệt đối với Tổ quốc. Ông mãi là hình ảnh đẹp của người chỉ huy dũng cảm, sâu sắc, biết đặt lợi ích dân tộc và sinh mệnh đồng đội lên trên hết.



