Dấu ấn sự nghiệp cách mạng của người phụ nữ xuất chúng
Dấu ấn sự nghiệp cách mạng của người phụ nữ xuất chúng
Sinh ra trong một gia đình gia giáo, được giác ngộ và trưởng thành trong phong trào cách mạng của quần chúng, bà Nguyễn Thị Bình - người phụ nữ thông minh, duyên dáng, khiêm nhường cùng tài thuyết phục xuất chúng đã trở thành “sứ giả hòa bình” của Việt Nam những năm cuối thế kỷ XX. Sau này, bà giữ cương vị Phó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.Bà Nguyễn Thị Bình, tên thường gọi là Nguyễn Thị Châu Sa, sinh ngày 26/5/1927, quê quán xã Điệu Quang, huyện Điện Biên, tỉnh Quảng Nam, là cháu ngoại của nhà chí sĩ yêu nước Phan Chu Trinh. Ông nội là nghĩa binh trong phong trào Cần Vương. Cha là ông Nguyễn Đồng Hợi, từng làm Tham tá công chánh thời Pháp thuộc. Lúc nhỏ, gia đình bà sinh sống tại Phnôm Pênh, Campuchia. Năm 1944, Nguyễn Thị Bình về nước, bắt đầu tham gia các hoạt động trong phong trào yêu nước của học sinh, sinh viên tại Sài Gòn. Từ tháng 8/1945 đến tháng 1/1946, bà tham gia phong trào quần chúng giành chính quyền tại Sài Gòn và tham gia tiếp tế, chuyển vũ khí ra chiến khu cho Chi đội I miền Đông. Tháng 2/1945, Nguyễn Thị Bình được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Phụ nữ cứu quốc tại Hộ 5, Quận 3, Sài Gòn. Tháng 7/1947, đồng chí là Thư ký rồi Đoàn trưởng Đoàn Phụ nữ cứu quốc thành Sài Gòn, Bí thư Đảng đoàn Phụ nữ Sài Gòn – Chợ Lớn và tham gia mặt trận Liên – Việt. Tháng 10/1947, bà được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. 
Bà Nguyễn Thị Bình (ở giữa) Ảnh tư liệu. Tháng 7/1951, bà bị thực dân Pháp bắt giam ở khám Chí Hòa (một nhà tù thời đó, hiện nay tại Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh). Mặc dù đối mặt với những đòn roi tra tấn vô cùng dã man của kẻ thù nhưng đồng chí vẫn nêu cao khí tiết cách mạng, tích cực tham gia phong trào đấu tranh của tù chính trị. Bà được bầu làm Chi ủy viên Chi bộ nhà tù Chí Hòa. Năm 1954, bà ra tù, tiếp tục hoạt động trong phong trào hòa bình đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ. Năm 1955, Nguyễn Thị Bình được điều ra Bắc tập kết, là cán bộ của Hội Liên hiệp phụ nữ Trung ương. Năm 1959, đồng chí là Trưởng ban Phúc lợi, Đảng đoàn phụ nữ Trung ương. Tháng 7/1962, đồng chí được điều trở lại miền Nam, giữ chức vụ Ủy viên Trung ương phụ trách công tác đối ngoại Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tháng 1/1969, bà được giao trọng trách là Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Trưởng đoàn đàm phán tại Hội nghị Pari. Trong suốt thời gian đảm nhiệm vai trò Trưởng đoàn đàm phán tại Hội nghị 4 bên tại Pari, với phong thái ngoại giao lịch lãm, duyên dáng, sang trọng, thông minh, sắc bén, đầy tính thuyết phục, bà đã để lại dấu ấn được giới truyền thông quốc tế đặt tên trang trọng là “Madame Bình”. Trong 5 năm tiến hành đàm phán, ngoài đấu tranh trực tiếp trên bàn đàm phán, với tư cách Bộ trưởng ngoại giao, bà đã tham gia các cuộc họp báo, trả lời phỏng vấn, tham dự các hội nghị quốc tế, tuyên truyền, vận động, tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế cho sự nghiệp đấu tranh vì chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.
Bà Nguyễn Thị Bình ký Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam tại thủ đô Pari (Pháp), ngày 27/01/1973. Ảnh tư liệu. Ngày 27/01/1973, Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết tại Pari (Pháp) giữa bốn bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hoa Kỳ, Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa. Nhớ về giây phút trọng đại ấy của dân tộc, bà Nguyễn Thị Bình từng nói: “Khi đặt bút ký vào bản Hiệp định Pari, tôi vô cùng xúc động, nghĩ đến những đồng bào, đồng chí, đến bạn bè ở cả hai miền Nam, Bắc, nghĩ đến những người đã ngã xuống không còn có thể biết được sự kiện trọng đại này, tôi bỗng trào nước mắt. Đó có lẽ là kỷ niệm sâu sắc nhất trong cuộc đời ngoại giao của tôi”. Đánh giá về cuộc đấu tranh ngoại giao ở Pari, bà Nguyễn Thị Bình chia sẻ: “Hội nghị Pari mang lại rất nhiều kinh nghiệm quý báu trong đàm phán ngoại giao. Kinh nghiệm là phải biết đánh giá tình hình ta và địch như thế nào. Thứ hai là phải biết chớp thời cơ. Thứ ba là phải có sách lược khôn ngoan”. Đất nước thống nhất, bà Nguyễn Thị Bình đảm nhiệm vai trò Bộ trưởng Bộ Giáo dục (1976), Phó Trưởng ban đối ngoại Trung ương Đảng kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội (1987). Năm 1992, tại kỳ họp Quốc hội khóa IX, bà được bầu là Phó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Năm 2003, bà Nguyễn Thị Bình thành lập Quỹ Hòa bình và phát triển Việt Nam và là Chủ tịch danh dự của Hội nạn nhân chất độc da cam/đioxin Việt Nam. Trước đó năm 2001, bà được Đảng, Nhà nước trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh. Có lẽ đóng góp lớn nhất của bà Nguyễn Thị Bình trong cuộc đời làm cách mạng là góp phần quan trọng vào việc làm rạng ngời đường lối đấu tranh vì chính nghĩa của dân tộc Việt Nam. Bà là một trong những người xứng đáng với lời khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phụ nữ Việt Nam: “Anh hùng, Bất khuất, Trung hậu, Đảm đang”.
Hiện vật Máy đánh chữ hiệu Lettera 32 của bà được trưng bày tại Triển lãm “Phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc”. Ảnh BTLSQSVN. Tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam hiện lưu giữ một số kỷ vật gắn với quá trình hoạt động cách mạng lừng lẫy của bà Nguyễn Thị Bình, trong đó có chiếc máy đánh chữ Lettera 32 do Hội Liên hiệp Phụ nữ Cộng hòa Pháp trao tặng năm 1966. Hiện nay, chiếc máy đang được trưng bày tại triển lãm “Phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc” do Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam tổ chức tháng 10/2019./.Thanh Tâm

Bà Nguyễn Thị Bình (ở giữa) Ảnh tư liệu. Tháng 7/1951, bà bị thực dân Pháp bắt giam ở khám Chí Hòa (một nhà tù thời đó, hiện nay tại Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh). Mặc dù đối mặt với những đòn roi tra tấn vô cùng dã man của kẻ thù nhưng đồng chí vẫn nêu cao khí tiết cách mạng, tích cực tham gia phong trào đấu tranh của tù chính trị. Bà được bầu làm Chi ủy viên Chi bộ nhà tù Chí Hòa. Năm 1954, bà ra tù, tiếp tục hoạt động trong phong trào hòa bình đòi thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ. Năm 1955, Nguyễn Thị Bình được điều ra Bắc tập kết, là cán bộ của Hội Liên hiệp phụ nữ Trung ương. Năm 1959, đồng chí là Trưởng ban Phúc lợi, Đảng đoàn phụ nữ Trung ương. Tháng 7/1962, đồng chí được điều trở lại miền Nam, giữ chức vụ Ủy viên Trung ương phụ trách công tác đối ngoại Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tháng 1/1969, bà được giao trọng trách là Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Trưởng đoàn đàm phán tại Hội nghị Pari. Trong suốt thời gian đảm nhiệm vai trò Trưởng đoàn đàm phán tại Hội nghị 4 bên tại Pari, với phong thái ngoại giao lịch lãm, duyên dáng, sang trọng, thông minh, sắc bén, đầy tính thuyết phục, bà đã để lại dấu ấn được giới truyền thông quốc tế đặt tên trang trọng là “Madame Bình”. Trong 5 năm tiến hành đàm phán, ngoài đấu tranh trực tiếp trên bàn đàm phán, với tư cách Bộ trưởng ngoại giao, bà đã tham gia các cuộc họp báo, trả lời phỏng vấn, tham dự các hội nghị quốc tế, tuyên truyền, vận động, tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế cho sự nghiệp đấu tranh vì chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.

Bà Nguyễn Thị Bình ký Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam tại thủ đô Pari (Pháp), ngày 27/01/1973. Ảnh tư liệu. Ngày 27/01/1973, Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết tại Pari (Pháp) giữa bốn bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hoa Kỳ, Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa. Nhớ về giây phút trọng đại ấy của dân tộc, bà Nguyễn Thị Bình từng nói: “Khi đặt bút ký vào bản Hiệp định Pari, tôi vô cùng xúc động, nghĩ đến những đồng bào, đồng chí, đến bạn bè ở cả hai miền Nam, Bắc, nghĩ đến những người đã ngã xuống không còn có thể biết được sự kiện trọng đại này, tôi bỗng trào nước mắt. Đó có lẽ là kỷ niệm sâu sắc nhất trong cuộc đời ngoại giao của tôi”. Đánh giá về cuộc đấu tranh ngoại giao ở Pari, bà Nguyễn Thị Bình chia sẻ: “Hội nghị Pari mang lại rất nhiều kinh nghiệm quý báu trong đàm phán ngoại giao. Kinh nghiệm là phải biết đánh giá tình hình ta và địch như thế nào. Thứ hai là phải biết chớp thời cơ. Thứ ba là phải có sách lược khôn ngoan”. Đất nước thống nhất, bà Nguyễn Thị Bình đảm nhiệm vai trò Bộ trưởng Bộ Giáo dục (1976), Phó Trưởng ban đối ngoại Trung ương Đảng kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội (1987). Năm 1992, tại kỳ họp Quốc hội khóa IX, bà được bầu là Phó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Năm 2003, bà Nguyễn Thị Bình thành lập Quỹ Hòa bình và phát triển Việt Nam và là Chủ tịch danh dự của Hội nạn nhân chất độc da cam/đioxin Việt Nam. Trước đó năm 2001, bà được Đảng, Nhà nước trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh. Có lẽ đóng góp lớn nhất của bà Nguyễn Thị Bình trong cuộc đời làm cách mạng là góp phần quan trọng vào việc làm rạng ngời đường lối đấu tranh vì chính nghĩa của dân tộc Việt Nam. Bà là một trong những người xứng đáng với lời khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phụ nữ Việt Nam: “Anh hùng, Bất khuất, Trung hậu, Đảm đang”.

Hiện vật Máy đánh chữ hiệu Lettera 32 của bà được trưng bày tại Triển lãm “Phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc”. Ảnh BTLSQSVN. Tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam hiện lưu giữ một số kỷ vật gắn với quá trình hoạt động cách mạng lừng lẫy của bà Nguyễn Thị Bình, trong đó có chiếc máy đánh chữ Lettera 32 do Hội Liên hiệp Phụ nữ Cộng hòa Pháp trao tặng năm 1966. Hiện nay, chiếc máy đang được trưng bày tại triển lãm “Phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc” do Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam tổ chức tháng 10/2019./.Thanh Tâm



