Khác

Dấu ấn Trần Văn Giàu: Một nhân cách, một tài năng, một tinh thần phụng sự dân tộc

Không chỉ là nhân chứng mà Giáo sư, nhà cách mạng Trần Văn Giàu còn là người tạo dựng nên một khoảnh khắc của lịch sử.

Ninh Bình21/04/2026Trần Thị Thu Trang (Kho bạc Nhà nước khu vực V)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Hãy tham gia và góp sức mình vào hết thảy những việc gì đem lại ích nước lợi nhà!”, đó là lời mà Giáo sư, nhà cách mạng Trần Văn Giàu dặn dò con gái nuôi của ông.

Cả một đời ông phụng sự cho cách mạng, cả một đời ông phụng hiến cho dân tộc, cả một đời không quản tâm lực trí lực dành cho quốc gia, cho sự nghiệp kiến quốc thống nhất đất nước, như lời cha ông đã từng dặn ông khi ông bị nước Pháp trục xuất do tranh đấu cho nước Việt yêu thương, “Tận trung cũng là tận hiếu”.

Nhà cách mạng chuyên nghiệp

“Yên Bái - đây là cái từ nhắc nhở ta rằng không thể bịt miệng một dân tộc mà người ta không thể khuất phục bằng lưỡi kiếm của đao phủ...”.

Dưới ánh đèn điện mờ tại khu học xá của sinh viên Việt Nam tại Toulouse, nhiều sinh viên đã chuyền tay nhau bài thơ của nhà thơ cộng sản Louis Aragon. Sự kiện khởi nghĩa Yên Bái đã vọng sang đến nước Pháp. Thực dân Pháp điên cuồng ra lệnh xử tử những thủ lĩnh anh hùng Nguyễn Thái Học, Ký Con... Lập tức, Đảng Cộng sản Pháp kêu gọi quần chúng phản đối.

Từ Toulouse, sinh viên Trần Văn Giàu cùng nhiều người khác được cử lên Paris tham gia cuộc biểu tình ngay trước dinh Tổng thống Pháp. Sau sự kiện chấn động này, tháng 6/1930 sinh viên Trần Văn Giàu cùng 18 người khác bị trục xuất về nước. Có thể ghi nhận đây là bước đường tham gia cách mạng đầu tiên của một chàng trai mới hai mươi xuân xanh, về sau sẽ trở thành một nhà sử học, một nhà giáo lừng danh của nhiều thế hệ thanh niên Việt Nam.

Năm 1928, trước ngày lên tàu thủy Cap Saint Jacques sang Pháp, cha mẹ Trần Văn Giàu là ông Trần Văn Chơi và bà Nguyễn Thị Phụng buộc con mình phải làm đám hỏi. Sở sĩ phải như thế, vì ông bà sợ con trai mình sang kinh thành hoa lệ sẽ “phải lòng” một bà đầm nào đó.

Người se duyên kết tóc cùng ông Giàu là cô Đỗ Thị Đạo. Từ đây người phụ nữ rất mực thủy chung này chung sống với ông Giàu cho đến lúc cuối đời, dù cả hai không có con nhưng họ lại có rất nhiều con, đó là các lớp học sinh, sinh viên mà ông Giàu đã đào tạo nên người.

Đêm ấy, dưới ánh trăng sáng ngời tại xã An Lục Long, huyện Châu Thành, Tân An (nay Long An), cầm lấy tay người bạn đời, ông Giàu không nói gì chỉ lặng lẽ trao tập thơ Lục Vân Tiên như một lời thề nguyền trăm năm chung sống đến răng long bạc tóc.

Lật trang sách đến câu: “Trai thời trung hiếu làm đầu/ Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình”, cô Đạo ứa nước mắt và biết rằng lời thề nguyền này sẽ mãi mãi đi trọn hai cuộc đời đã hòa chung thành một. Và chính họ sẽ cùng gánh vác khi bão táp, sóng gió của thời cuộc ập đến. Nói như nhà thơ Viễn Phương, đó là cuộc đời của con người:

Sóng gầm biển lớn trai thành ngọc,
Sấm động non cao gỗ hóa trầm.

Trở về nước sau vụ biểu tình, bấy giờ Trần Văn Giàu đã là đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, ông xin đi dạy tại trường tư thục trung học Huỳnh Công Pháp (Q1, Sài Gòn) do ông Hoàng Minh Giám làm hiệu trưởng. Ngày tháng lặng lẽ này không thể dung nạp một tâm hồn đang có nhiều khát vọng dữ dội. Năm 1931, ông Giàu ngỏ ý với Xứ ủy Nam kỳ là ông Ung Văn Khiêm cho mình được sang Nga du học. Được sự đồng ý của tổ chức, ông bí mật xuất dương.

Sang đến Pháp, ông Nguyễn Văn Tạo - Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Pháp - giúp ông sang Nga. Tại đây, ông Giàu theo học trường Đại học Phương Đông và tốt nghiệp xuất sắc với luận án Vấn đề ruộng đất ở Đông Dương.

Có thể nói tư duy nghiên cứu với tinh thần khoa học nghiêm túc ở ông Giàu đã lóe sáng từ thời điểm này. Nói như thế, vì không một ai có thể ngờ rằng, trong suốt cuộc đời từng vào ra nếm cơm tù Khám Lớn đến địa ngục trần gian Côn Đảo, nhưng ông Giàu đã để lại một tài sản văn hóa rất đồ sộ.

Đầu năm 1933, ông Giàu bí mật trở về Sài Gòn trên chiếc tàu Félix Roussel. Với một người tầm thường khác, có thể chọn lấy một công việc bình yên để êm ấm dưới mái gia đình, nhưng ông Giàu lại không. Ông bắt liên lạc với Xứ ủy Nam kỳ qua ông Trương Văn Bang, chồng của bà Nguyễn Thị Một để tiếp tục dấn thân.

Cuối năm đó, ông Giàu bị bắt tại Bà Hom (Bình Trị Đông) nhưng do không đủ chứng cứ, chúng chỉ kết án 5 năm tù treo. Tất nhiên, những hoạt động sôi nổi của ông như thực hiện tờ báo Cờ đỏ, tủ sách Cộng sản tùng thư đã bị thực dân Pháp theo dõi ráo riết. Tháng 4-1935, ông lại bị bắt, kết án 5 năm tù và đày đi Côn Đảo.

Thời điểm này, Mặt trận Bình dân lên nắm quyền tại Pháp, nhờ vậy, một số tù chính trị tại Đông Dương được ân xá trước thời hạn, nhưng ông Giàu lại không. Mãi đến tháng 5-1940, mãn hạn tù, ông Giàu mới được về đất liền. Lúc ấy, ông nghĩ rằng, sẽ tranh thủ thời gian về Long An thăm vợ, nhưng không, chỉ 9 ngày sau ông lại bị bắt.

Lần này, chúng giam ông tại Tà Lài. Song sắt nhà tù dù có kiên cố đến đâu cũng không thể giam cầm được khí phách của một người cộng sản chân chính. Ông Giàu cùng đồng chí cốt tử của mình là Tô Ký, Dương Quang Đông... tổ chức vượt ngục.

Có một điều ít ai ngờ là ngay lúc đào thoát, ông Giàu còn viết lá thư gửi cho chúa ngục: “Chúng tôi ra đi vì mục đích giải phóng dân tộc chúng tôi, giành lại độc lập dân tộc tự do cho đất nước chúng tôi...”.

Trong thư ông còn so sánh việc làm của mình tựa như bất kỳ người Pháp yêu nước nào cũng phải làm như thế khi chống lại sự chiếm đóng của Hitler. Hành động rõ ràng, minh bạch này ít nhiều phản ánh đúng tâm thế “Lục Vân Tiên” ở ông Giàu - người con ưu tú của Nam bộ.

Về đến Sài Gòn trong thời điểm tình hình chính trị đang có nhiều biến động dữ dội, tháng 10-1943, ông Giàu được cử làm Bí thư Xứ ủy Nam kỳ. Khi Nhật lật Pháp, để thu hút các lực lượng chính trị, chúng hà hơi tiếp sức cho ra đời các tổ chức thân Nhật và kêu gọi mọi người cùng hợp tác với chúng.

Vào cuối tháng 3-1945, Iđa - quyền Tổng trưởng Thanh niên - Thể thao Đông Dương đã tìm gặp bác sĩ Phạm Ngọc Thạch. Y ngỏ ý mời ông đứng ra thành lập tổ chức dành cho thanh niên Sài Gòn, tùy ông đặt tên gọi, cũng như nêu lên tôn chỉ mục đích và nội dung hoạt động.

Nhận được tin này, ông Giàu cùng Xứ ủy Nam kỳ chủ trương “tương kế tựu kế”: giao Phạm Ngọc Thạch cùng trí thức và sinh viên yêu nước đứng ra tổ chức thanh niên một cách công khai, hợp pháp nhằm thu hút đông đảo lực lượng quần chúng đứng về phía cách mạng.

Lịch sử không bao giờ còn lặp lại một sự kiện hết sức lạ lùng: Ngày 2-9-1945, nhân dân cả nước tề tựu lắng nghe Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh phát ra từ Hà Nội.

Lúc ấy tại Sài Gòn đã đúng giờ nhưng không ai nghe được (về sau mới biết là đài Hà Nội bị phá, không phát sóng được). Ngay lập tức, anh em Xứ ủy và Ủy ban Hành chánh đã cử ông Giàu - với cương vị Chủ tịch Ủy ban Hành chánh lâm thời Nam bộ - bước lên lễ đài tuyên bố độc lập.

Bản “tuyên ngôn” ứng khẩu của ông đã được các nhà báo tốc ký và ngày hôm sau đăng trên báo chí Sài Gòn. Sự kiện này đã được nhà báo kỳ cựu Trần Tấn Quốc ghi rõ trong tập sách Saigon septembre 45 và Hội thảo của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam sau này cũng đã xác nhận.

Kỷ niệm với Chủ tịch Hồ Chí Minh

Giữa tháng 9-1945, Trần Văn Giàu được lệnh ra Bắc. Trong chuyến đi này, có hai kỷ niệm sâu sắc về Chủ tịch Hồ Chí Minh mà suốt đời ông không quên. Trên Báo Sài Gòn Giải phóng ra ngày 3-2-2007, ông có kể lại,

“Cụ Hồ chỉ thị tôi và bác sĩ Phạm Ngọc Thạch ra Bắc để báo cáo với Chính phủ về tình hình khởi nghĩa tại miền Nam, những vấn đề gì cần phải giải quyết... Đây cũng là lần đầu tiên tôi được gặp Cụ Hồ. Tôi ở trong Nam ra, lúc đi tôi không có bộ đồ Tây nào đàng hoàng, chỉ có quần áo sơ mi trông rất tuềnh toàng. Khi ra Bắc, tôi ở nhà ông Đỗ Đình Thiện vì ông là bạn học của tôi.

Hôm chuẩn bị vào gặp Cụ Hồ, ông Thiện dẫn tôi ra phố Hàng Trống để may một bộ đồ nỉ hết sức đẹp, có bộ cúc áo trông rất sang trọng. Ông Thiện nói với tôi: “Ông Giàu ở Sài Gòn ra phải mặc như vậy để vào gặp Cụ Hồ...”. Hôm vào gặp Cụ, tôi mặc bộ quần áo mới. Lúc gặp tôi, Cụ lại cầm tay áo xem cúc áo và khen: “Bộ quần áo nỉ đẹp quá, bộ cúc áo cũng thật đẹp!”. Lúc này ông Thiện nói nhỏ với tôi: “Ông Cụ đang phê bình ông đấy!”.

Khi về, tôi cất ngay bộ đồ này và lần sau đến gặp Cụ, tôi mặc bộ đồ kaki bình thường. Cụ bắt tay tôi niềm nở, không khen chê gì cả. Tôi hiểu, đó là cách Cụ “chỉnh” mình. Là cán bộ không được se sua, phải ăn mặc chỉnh tề, tươm tất, đàng hoàng, đơn giản như mọi người.

Trong khoảng thời gian ở miền Bắc gần một tháng, hằng ngày tôi đến ăn cơm trưa với Cụ tại Phủ Chủ tịch. Tuy nhiên, có nhiều bữa ghế của tôi trống vì tôi không đến, Cụ Hồ hỏi những người ngồi ăn chung: “Chú Giàu dạo này ăn ở đâu, sao ít thấy đến ăn trưa ở đây vậy?”.

Anh em nói với Cụ: “Chắc anh ấy đi ăn cơm ở nhà ông Đỗ Đình Thiện” (ông Đỗ Đình Thiện là một trong những nhà giàu bậc nhất Hà Nội khi đó và cũng là người đã đóng góp nhiều tiền vào kho bạc đang trống rỗng của chính quyền cách mạng).

Sau đó tôi có nghe anh em nói lại, khi nghe nói tôi đi ăn ở nhà ông Đỗ Đình Thiện, Cụ Hồ bảo: “Chắc ăn cơm với Bác khổ quá nên chú Giàu đến ăn cơm nhà ông Đỗ Đình Thiện ngon hơn”. Bản thân tôi cũng nghe Cụ Hồ nói: “Ăn cơm với Bác cực quá nên chú lại ăn cơm với ông Thiện phải không...”. Rất nhẹ nhàng nhưng với tôi đó là lời nhắc nhở thật thấm thía.

Trong lúc dân ta đang khổ, nạn đói năm 1945 đang còn ảnh hưởng đến bao người, đã là cán bộ phải biết khổ cùng với cái khổ của dân, phải sướng sau dân, vậy mà tôi là cán bộ cách mạng lại tìm đến chỗ cơm ngon để ăn thì quả là không được. Qua hai câu chuyện trên tôi thấy những gì Cụ dạy tôi rất sâu sắc và có tác dụng rất cao, cao hơn gấp nhiều lần nếu chỉ thẳng bảo tôi phải làm cái này, làm cái kia”.

Những kỷ niệm này để lại ấn tượng sâu sắc trong cuộc đời Trần Văn Giàu. Sau này, khi nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh, Trần Văn Giàu nhấn mạnh: “Về nhân cách Cụ Hồ, theo tôi, kết tụ trong 7 điểm cơ bản, cũng là 7 phẩm chất được con dân nước Việt và thế giới ngợi ca”.

Đó là: 1- Ưu tiên đạo đức; 2- Tận tụy quên mình; 3- Kiên trì, bất khuất; 4- Khiêm tốn, giản dị; 5- Hài hòa, kết hợp; 6- Thương, quý người, nâng đỡ con người, thấu tình đạt lý; 7- Yêu thiên nhiên, hòa hợp với thiên nhiên”.

Và ông kết luận, “Xin mượn ý của một nhà báo ở châu Đại Dương để tạm kết chủ đề luận về nhân cách Hồ Chủ tịch: Người ta không thể trở thành một Cụ Hồ Chí Minh, nhưng ở Cụ Hồ, mỗi người có thể học một số điều làm cho mình trở thành tốt hơn”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn