Dấu ấn trên những chiến trường ác liệt
Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nghĩa vụ quốc tế tại Campuchia là một chương hào hùng nhưng cũng đầy gian khổ trong lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong dòng chảy đó, cuộc đời binh nghiệp của đồng chí Lê Văn Dũng gắn liền với những thăng trầm của Sư đoàn 9 - đơn vị chủ lực anh hùng thuộc Quân đoàn 4. Từ năm 1979 đến 1987, đồng chí đã cùng đồng đội vượt qua muôn vàn thử thách, từ việc đánh đuổi chế độ diệt chủng Pol Pot đến hồi sinh một dân tộc từ tro tàn.
Sau khi Thủ đô Phnom Penh được giải phóng vào tháng 1-1979, Nhà nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Campuchia ra đời. Tuy nhiên, tàn quân Pol Pot, với sự tiếp sức từ bên ngoài, vẫn chưa từ bỏ âm mưu phản kích. Chúng rút về các vùng rừng núi hiểm trở sát biên giới Thái Lan và trà trộn vào các phum sóc để thực hiện chiến tranh du kích. Ngày 18-2-1979, Hiệp ước hòa bình hữu nghị và hợp tác Việt Nam - Campuchia được ký kết, đánh dấu một bước phát triển vô cùng quan trọng trong quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai nước. Trên cơ sở Hiệp ước đó, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 9 tiếp tục thực hiện nhiệm vụ quốc tế trên đất bạn Campuchia.
Trong bối cảnh đó, đồng chí Lê Văn Dũng trở lại Sư đoàn 9 với cương vị Phó sư đoàn trưởng, đứng chân ở tỉnh Kampong Chhnang và tỉnh Pursat. Sư đoàn trưởng là đồng chí Trần Quang Trung, Chính ủy Sư đoàn Lưu Hồng Nghị. Thay vì ngồi tại sở chỉ huy, với bản tính của một người lính trưởng thành từ thực tiễn, đồng chí Lê Văn Dũng đã chủ động xin về trực tiếp chỉ đạo tại Trung đoàn 1. Đây là quyết định thể hiện tầm nhìn của một người chỉ huy, đó là muốn thắng địch, phải hiểu dân và nắm chắc địa bàn.
Tại đây, đồng chí Lê Văn Dũng nhận ra một vấn đề nổi cộm. Quân đội ta dù chiến đấu dũng cảm nhưng lại gặp rào cản về ngôn ngữ và phong tục. Địch đã lợi dụng điều này để tuyên truyền chia rẽ, khiến người dân e ngại Bộ đội Việt Nam. Đồng chí đã chỉ đạo quyết liệt: “Cán bộ, chiến sĩ phải học tiếng Khơ-me”. Đồng chí chủ trương phối hợp chặt chẽ với bạn để thành lập các đội công tác hỗn hợp. Bằng những việc làm cụ thể của cán bộ, chiến sĩ ta, nhân dân bạn từ chỗ chưa hiểu, e ngại đã dần dần nhận biết sự giúp đỡ của Bộ đội Việt Nam là vô tư, trong sáng, biểu hiện bằng sự tin yêu, đùm bọc, che chở, giúp đỡ tạo điều kiện để bộ đội ta hoàn thành nhiệm vụ. Nhiều người tự nguyện dẫn đường, chỉ nơi địch ẩn náu của địch để bộ đội ta bắt hoặc chỉ nơi địch cất giấu vũ khí để bộ đội ta thu hồi.



