Dấu ấn về sự nghiệp và cuộc đời của Nguyễn Đình Chiểu
- Nguyễn Đình Chiểu sinh ra tại quê mẹ làng Tân Thới, tổng Bình Trị Thượng, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định (này là phường Cầu Kho, quận 1, TP Hồ Chí Minh). Thân phụ ông là Nguyễn Đình Huy, hiệu Dương Minh Phủ, quê ở làng Bồ Điền, tổng Phù Ninh, nay là huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông là con trưởng, tiếp sau có 6 người em là: Nguyễn Thị Thục, Nguyễn Thị Nữ, Nguyễn Thị Thành, Nguyễn Đình Tựu, Nguyễn Đình Tự và Nguyễn Đình Huân.
- 1834: Được cha đưa ra Huế học.
- 1840: Trở về quê mẹ và thi đậu tú tài tại trường thi Gia Định (1843).
- 1846: Nguyễn Đình Chiểu lại trở ra Huế học chờ khóa thi Hội Kỷ Dậu 1849, nhưng chưa kịp thi thì được tin mẹ mất tại Gia ĐỊnh (11/1848). Trên đường trở về chịu tang mẹ, vì thời tiết thất thường, vất vả và khóc thương nhiều nên ông bị bệnh rồi mù cả đôi mắt. Trong thời gian nghỉ lại Quảng Nam chữa bệnh, tuy bệnh không hết, nhưng ông đã được vị danh y truyền dạy nghề thuốc.
- 1849: Về đến nhà, không đi đâu đóng cửa ở nhà chịu tang mẹ. Bệnh mắt của ông trở nặng lại khiếm cả hai mắt bị mù.
- 1851: Sau khi mãn tang mẹ, để nuôi gia đình ông mở trường dạy học ở Bình Vi (Gia Định). Nghe tiếng Nguyễn Đình Chiểu hay chữ, tính nết điềm đạm. giàu lòng thương người nên học trò theo học rất đông. Thầy giáo Nguyễn Đình Chiểu được gọi là Đồ Chiểu từ đó. Ngoài việc dạy học, ông còn làm nghề bốc thuốc chữa bệnh và miệt mài nghiên cứu y học dược liệu và sáng tác thơ văn. Thời gian này ông sáng tác Dương Tử - Hà Mậu.
- 1855: Nguyễn Đình Chiểu kết hôn với cô Lê Thị Điền là em gái của một người học trò ở làng Thanh Ba, huyện Cần Giuộc. Hai người có 6 người con (3 trai, 3 gái).
- 1859: Thực dân Pháp đánh chiếm Gia định, Ông cùng gia đình chạy về quê vợ ở làng Thanh Ba, huyện Cần Giuộc, tỉnh Gia Định (nay là huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An). Trong thời gian này ông sáng tác truyện Lục Vân Tiên để bộc lộ tâm trạng của mình trong thời buổi loạn lạc này.
- 1861: Thực dân Pháp đánh chiếm Cần Giuộc, Tân An, Gò Công. Bất bình và phẫn nộ trước hành động cướp nước của giặc, nghĩa quân của Cần Giuộc, Tân An, Gò Công nhất tề đứng dậy chống giặc. Cảm kích trước hành động hy sinh vì nước của các nghĩa quân, Nguyễn Đình Chiểu đã sáng tác bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc - một án văn yêu nước bất hủ trong lịch sử văn học Việt Nam.
- 1862: Khi 3 tỉnh miền Đông rơi vào tay quân Pháp, không chịu sống trong vùng bị chiếm đóng, Nguyễn Đình Chiểu cùng gia đình xuôi thuyền về làng An Đức, tổng Bảo An, tỉnh Vĩnh Long (nay là huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre). Tại đây ông lại mở trường dạy học và tiếp tục làm nghề bốc thuốc chữa bệnh cứu người. Chính trong thời gian này, Nguyễn Đình Chiểu sáng tác Ngự Tiều Y thuật vấn đáp, một tác phẩm vừa có tính văn học, vừa có tính y học cao.
- 8/1864: Khi nghe tin Trương Định hy sinh, Nguyễn Đình Chiểu cảm xúc và thương tiếc đã viết bài Văn Tế và 12 bài thơ liên hoàn để điếu người anh hùng.
- 1868: Trong trận Giông Rạch, đốc binh Phan Tòng Anh anh dũng hy sinh, Đồ Chiểu đã xót thương làm 10 bài thơ điếu ca ngợi “Người trung nghĩa dáng bia son” bằng những câu thơ đầy nhiệt huyết: Tinh thần hai chữ châu sương tuyết/ Khí phách ngàn thu vỡ núi non.
- 1884: Thực dân Pháp ký Hòa ước với Triều đình Huế và đô hộ toàn Việt Nam, chúng nhận thấy Nguyễn Đình Chiểu là người có tài và có uy tín với nhân dân, nên tìm mọi cách dụ đỗ, mua chuộc, nhưng ông nhất quyết chối từ không ra hợp tác với thực dân Pháp.
- 3/7/1888: Ông mất tại Ba Tri (Bến Tre).
- Ngày 23/11/2021, tại Paris (Pháp), kỳ họp Đại hội đồng lần thứ 41 Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) đã thông qua Nghị quyết vinh danh Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ, nhà văn hóa lớn của nhân loại và tham gia kỷ niệm 200 năm Ngày sinh Nguyễn Đình Chiểu vào năm 2022.
Tác phẩm chính
- Truyện thơ Nôm: Lục Vân Tiên, Dương Từ - Hà Mậu, Ngư tiều y thuật vấn đáp…
- Thơ ca: Chạy giặc, Từ biệt cố nhân, Ngóng gió đông, Thà đui, Chạnh tưởng không Tử, Chúng tử tế mẫu văn, Con dê, Đạo trời...
- Văn tế: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Văn điếu Trương Định, Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh, Điếu Đông các Đại học sĩ Phan Thanh Giản, Mười bài thơ điếu Ba Tri Đốc binh Phan Tòng,…
- Hịch kêu gọi nghĩa binh đánh Tây, Thảo thử hịch...



