Dấu bánh xe trên tuyến đường lửa

DẤU BÁNH XE TRÊN TUYẾN ĐƯỜNG LỬA
Ngày mới về làm dâu, tôi từng hỏi bố:
– Sao bố không đi xe máy cho nhanh?
Bố mỉm cười rồi đáp:
– Ngày xưa chiến tranh, Bố đã lái xe tải, xe tăng. Giờ có loại xe nào mạnh hơn xe tăng thì bố lái, còn không thì bố cứ đi xe đạp thôi!
Ngày mới về làm dâu, tôi từng hỏi bố:
– Sao bố không đi xe máy cho nhanh?
Bố mỉm cười rồi đáp:
– Ngày xưa chiến tranh, Bố đã lái xe tải, xe tăng. Giờ có loại xe nào mạnh hơn xe tăng thì bố lái, còn không thì bố cứ đi xe đạp thôi!
Câu trả lời nửa đùa nửa thật khiến cả nhà bật cười. Nhưng càng nghĩ, tôi càng thấy xúc động và tự hào. Chiếc xe đạp cũ kỹ mà bố sử dụng hằng ngày không chỉ là phương tiện đi lại, mà còn gợi nhắc về một thời tuổi trẻ đầy gian khó và hào hùng của người lính Trường Sơn năm ấy.
Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ, nhưng với bố tôi – ông Nguyễn Trung Văn, sinh năm 1946 tại quê hương Bác Hồ kính yêu, hiện đang sinh sống tại Thôn Thống Nhất, xã Đăk hà, tỉnh Quảng Ngãi, những năm tháng tuổi đôi mươi trên tuyến đường Trường Sơn huyền thoại vẫn còn nguyên vẹn như mới hôm qua. Mỗi khi nhắc đến Ngã ba Đồng Lộc, Cổng Trời – Cha Lo hay những đoàn xe nối đuôi nhau xuyên đêm vượt núi sang nước bạn Lào, ánh mắt bố lại ánh lên niềm tự hào xen lẫn những khoảng lặng của ký ức.
Bố tôi sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Nghệ An giàu truyền thống cách mạng. Tuổi thơ của bố gắn liền với những năm tháng đất nước còn chìm trong khói lửa chiến tranh. Tiếng máy bay gầm rú trên bầu trời, những lần sơ tán tránh bom và những cuộc chia tay người thân lên đường nhập ngũ đã trở thành ký ức không thể nào quên của thế hệ bố.
Lớn lên trong thời điểm Tổ quốc đang cần những người con ưu tú đứng lên bảo vệ non sông, chàng thanh niên Nguyễn Trung Văn luôn mang trong mình khát vọng được cống hiến cho đất nước. Năm 1967, khi vừa tròn 21 tuổi, bố tình nguyện lên đường nhập ngũ, bắt đầu hành trình của một người lính mà sau này trở thành niềm tự hào của gia đình và quê hương.
Ngày 1 tháng 2 năm 1968, ông được cử đi học tại Trường Lái xe thuộc Tổng cục Hậu cần tại Hà Tĩnh. Những ngày học lái xe trong điều kiện chiến tranh vô cùng gian khổ. Xe cũ, đường khó, xăng dầu khan hiếm, nhưng ai nấy đều miệt mài học tập. Họ hiểu rằng phía trước là chiến trường đang từng ngày cần đến những chuyến xe vận tải.
Sau khi hoàn thành khóa học, ông được điều động về Tổng cục Hậu cần, thuộc Binh trạm 12 trên tuyến đường Trường Sơn huyền thoại.
Đó là đơn vị đảm nhận nhiệm vụ vận chuyển lương thực, đạn dược, thuốc men và nhiều loại hàng hóa phục vụ chiến trường miền Nam. Công việc của ông là lái xe trên tuyến đường 12A lịch sử, từ Ngã ba Đồng Lộc, vượt qua Quảng Bình, Khe Ve, La Trọng, Cổng Trời, Cha Lo rồi sang nước bạn Lào.
Mỗi chuyến đi là một lần đối mặt với hiểm nguy.
Ngã ba Đồng Lộc khi ấy được ví như "tọa độ lửa". Bom đạn của địch ngày đêm trút xuống nhằm cắt đứt huyết mạch giao thông chi viện cho miền Nam. Có những ngày mặt đường vừa được san lấp xong đã bị đánh phá trở lại. Hố bom chồng lên hố bom, đất đá ngổn ngang khắp nơi.
Bố tôi kể rằng những người lính lái xe thường hành quân vào ban đêm. Không có ánh đèn sáng như bây giờ. Xe chỉ được bật đèn gầm hoặc đi theo tín hiệu của xe phía trước. Núi rừng Trường Sơn tối đen như mực. Chỉ cần một sơ suất nhỏ cũng có thể lao xuống vực sâu hoặc trở thành mục tiêu của máy bay địch.
Có những đêm đoàn xe xuất phát từ Đồng Lộc khi trời vừa tối. Hàng chục chiếc xe nối đuôi nhau lặng lẽ tiến về phía Tây. Tiếng động cơ hòa cùng tiếng côn trùng rừng núi tạo thành âm thanh đặc trưng của tuyến vận tải Trường Sơn.
Khi đến khu vực Cổng Trời – Cha Lo, con đường trở nên hiểm trở hơn. Một bên là vách núi dựng đứng, một bên là vực sâu hun hút. Đây cũng là nơi máy bay Mỹ tập trung đánh phá ác liệt nhằm ngăn chặn các đoàn xe vận tải vượt biên sang Lào.
Nhiều lần ông tận mắt chứng kiến bom nổ ngay phía trước đầu xe. Đất đá tung lên như những cột khói khổng lồ. Xe phải dừng lại giữa đường. Những người lính lập tức rời vô lăng, cầm cuốc, xẻng lao xuống san lấp hố bom, mở đường cho đoàn xe tiếp tục hành quân.
Có những hôm trời mưa như trút nước. Đất đỏ Trường Sơn nhão nhoét khiến bánh xe sa lầy. Cả đoàn phải xuống xe chặt cây, lót đường, kéo xe từng mét một. Quần áo ướt sũng, bùn đất phủ kín người nhưng không ai than vãn. Trong suy nghĩ của họ chỉ có một điều duy nhất: hàng phải đến chiến trường đúng thời gian.
Những năm tháng ấy, không chỉ bom đạn mà bệnh tật cũng là kẻ thù đáng sợ. Sốt rét rừng hoành hành khắp tuyến đường Trường Sơn. Nhiều người đang khỏe mạnh bỗng sốt cao, rét run, người gầy rộc đi. Bản thân ông Nguyễn Trung Văn cũng nhiều lần chống chọi với những cơn sốt kéo dài. Có những hôm vừa hết cơn sốt, người còn mệt lả nhưng vẫn leo lên cabin tiếp tục nhiệm vụ.
Điều giúp Bố tôi cùng đồng đội của mình vượt qua tất cả chính là tình đồng chí, đồng đội.
Bố còn nhớ nhất những bữa cơm vội bên đường. Chỉ vài nắm cơm vắt với chút muối vừng nhưng ai cũng thấy ngon. Đồng đội chia nhau từng bi đông nước, từng viên thuốc, từng chiếc áo mưa. Họ sống bên nhau như anh em ruột thịt.
Bởi Bố tôi cùng đồng đội của mình hiểu rằng phía trước còn biết bao chiến sĩ đang chờ từng thùng đạn, từng bao gạo, từng can xăng để tiếp tục chiến đấu.
Những chuyến xe âm thầm ấy đã góp phần làm nên sức mạnh của tuyến vận tải Trường Sơn huyền thoại, bảo đảm cho dòng chi viện từ hậu phương lớn miền Bắc đến các chiến trường miền Nam không bao giờ bị gián đoạn.
Sau nhiều năm bám trụ trên tuyến lửa, sức khỏe của ông giảm sút do ảnh hưởng của sốt rét và điều kiện chiến trường khắc nghiệt. Năm 1972, ông được điều chuyển về công tác tại Tổng cục Xăng dầu ở Hà Nội.
Dù không còn trực tiếp lái xe trên những cung đường bom đạn, ông vẫn tiếp tục làm nhiệm vụ bảo đảm nguồn nhiên liệu phục vụ chiến trường. Đối với ông, mỗi công việc đều là góp phần vào cuộc kháng chiến chung của dân tộc.
Rồi mùa xuân năm 1975 lịch sử đã đến.
Khi tin chiến thắng vang lên khắp mọi miền đất nước, những người lính như ông vỡ òa trong niềm hạnh phúc. Sau bao năm chiến đấu và hy sinh, đất nước cuối cùng đã thống nhất.
Năm 1975, ông phục viên trở về địa phương.
Người lính năm nào trở về với hành trang là những kỷ niệm không thể nào quên về một thời hoa lửa. Nhưng Bốtôi không chọn cuộc sống an nhàn.
Hưởng ứng chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng vùng kinh tế mới, Bố cùng gia đình rời quê hương vào Tây Nguyên lập nghiệp.
Những ngày đầu nơi vùng đất đỏ bazan vô cùng khó khăn. Rừng núi hoang vu, thiếu điện, thiếu nước, thiếu đủ thứ. Nhưng với ý chí của người lính Trường Sơn, ông không lùi bước.
Bố cùng Mẹ, các anh chị khai hoang đất đai, dựng nhà, trồng cây, phát triển kinh tế. Từ những mảnh đất còn hoang hóa, những vườn cây xanh tốt dần hình thành. Cuộc sống từng bước ổn định.
Người lính năm xưa tiếp tục cống hiến theo một cách khác – góp sức xây dựng quê hương mới trên vùng đất Tây Nguyên.
Giờ đây, khi tuổi đã cao, mái tóc đã bạc trắng theo năm tháng, Bố tôi vẫn giữ tác phong giản dị, chân thành của người lính Cụ Hồ. Mỗi lần kể lại những câu chuyện về Trường Sơn, về Đồng Lộc, về Cổng Trời – Cha Lo, giọng ông vẫn đầy xúc động.
Trong ký ức của ông, đó không chỉ là những địa danh lịch sử mà còn là nơi lưu giữ tuổi thanh xuân, tình đồng đội và những người đã mãi mãi nằm lại vì độc lập dân tộc.
Cuộc đời của Bố là hình ảnh đẹp của một thế hệ đã hiến dâng tuổi trẻ cho Tổ quốc. Từ người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn năm nào đến người tiên phong xây dựng vùng kinh tế mới nơi Tây Nguyên, ông luôn sống với tinh thần trách nhiệm, lòng yêu nước và ý chí vượt khó.
Những dấu bánh xe trên tuyến đường lửa năm xưa có thể đã bị thời gian phủ mờ, nhưng những cống hiến của những người lính như ông sẽ mãi được các thế hệ hôm nay và mai sau trân trọng, ghi nhớ. Bởi chính họ đã góp phần viết nên bản anh hùng ca bất tử của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XXI.



