Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân (1)

Lên đường nhập ngũ Vào lúc này thanh niên nam nữ, lớp lớp lên đường nhập ngũ và đi thanh niên xung phong. Khắp nơi rộn ràng không khí tòng quân chống Mỹ, lên đường giải phóng miền Nam. Tôi đã lớn thấy tưng bừng khí thế như vậy nên "chán học".

Lai Châu25/02/2026Phạm Trùng Dương (Đoàn xã Tà Tổng)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Vào lúc này thanh niên nam nữ, lớp lớp lên đường nhập ngũ và đi thanh niên xung phong. Khắp nơi rộn ràng không khí tòng quân chống Mỹ, lên đường giải phóng miền Nam. Tôi đã lớn thấy tưng bừng khí thế như vậy nên “chán học”.

Học hết cấp hai tôi và thằng Kỷ (em họ) cùng lớp chạy một mạch ra hồ bơi đầu vườn hoa Con Cóc, đầu phố Tam Giang nhảy thùm xuống nước lặn ngụp sung sướng. Cuộc đời được tự do “thoát khỏi cảnh học trò”.

Năm đó tôi mười sáu tuổi, cao 1 mét 67, nặng 50 kilôgam, rất khỏe mạnh nên giúp được nhiều việc cho gia đình. Ngoài đi làm hợp tác xã, dân công đắp đê, tôi về cùng thanh niên rủ nhau kéo và đắp ụ pháo cao xạ giúp bộ đội. Các em thiếu nhi hái lá cây, từng đoàn theo nhau đi ngụy trang trận địa, không khí nhộn nhịp vui như hội.

Vào một buôi sáng sớm tôi giúp mẹ gánh nước tưới rau ở bờ sông Thái Bình. Vừa cúi xuống múc nước thì có tiếng kẻng báo động máy bay Mỹ vang liên hồi ba tiếng một. Hàng đàn quạ sắt lao đến nhào lộn trên bầu trời cầu Phú Lương.

Cầu Phú Lương trên đường 5 bắc qua sông Thái Bình, con đường huyết mạch nối từ Hà Nội - Hải Dương đến cảng Hải Phòng. Vị trí của nó cực kỳ quan trọng trong việc vận chuyển hàng hóa từ cảng vào miền Bắc. Máy bay nhiều quá tôi đếm không xuể. Nó lao lên, bổ nhào xuống, lật qua, lật lại rơi tự do rồi nhào lộn như biểu diễn, mục đích là để phân tán hỏa lực của ta. Chỉ có mấy chiếc lao về phía cầu bỏ bom bắn phá, nhìn những cột nước bùng lên cao vút, cá trôi nổi trắng xóa cả mặt sông. Những con rồng lửa bay vút lên (tên lửa), đạn pháo của ta nổ như sét đánh nhằm vào lũ quạ mà bắn. Mặt đất rung chuyển, trên bâu trời đã có chiếc máy bay nổ tung, cháy đỏ rực. Mới đầu tôi chẳng sợ gì cả, cứ ngửa mặt lên xem. Nhưng đã có mảnh đạn rơi gần mấy mét, tôi sợ nép mình vào hốc đất ven bờ, căng mắt nhìn về phía cầu: Trời ơi! Hai nhịp cầu từ từ võng oằn xuồng chìm ập xuống lòng sông. Tôi nổi gai gà khắp người, bủn rủn tay chân, trong lòng xót xa, tim như thắt lại. Đau xót quá trời ơi! Căm thù sôi sục trong lòng. Lũ quạ biến mất. Tiếng súng pháo lặng im. Tôi lao nhanh về nhà, cả hợp tác xã, dân quân, bộ đội pháo binh dội lên lòng căm thù sôi sục. Tất cả chuẩn bị lao vào trận chiến đấu mới dồn ra bờ sông để ngày mai thêm hai cầu phao nữa thay thế ra đời.

Tháng 6 năm 1965, khi tôi đang cắt lúa ở đầu làng thì đòn sóc của ông bạn tên là Ly (Vũ Đình Liệu) lao đúng giữa bàn chân trái. Máu trào ra, tôi quỵ ngay tại chỗ, mấy em: Vịnh (con cậu Huy), Thi (Hồng) nhai cỏ, cởi xà cạp quần, băng bó rồi khênh tôi về nhà. Anh Hải ngay lập tức mượn xe đạp nhà anh Thập đưa tôi đi bệnh viện cấp cứu. Do nhiễm trùng nên đau đi, đau lại mất gần năm trời mới khỏi. Tính đùa dai hăng máu của thanh niên là thế đấy! Hậu quả khôn lường.

Buổi sáng ngày 20 tháng 4 năm 1966, khi đang cùng thanh niên hợp tác xã đào mương dẫn nước, thì một tin vui ập đến, giấy gọi nhập ngũ đã đến với tôi.

Chờ đợi ngày này bấy lâu nay, bởi vì đã đi khám nghĩa vụ quân sự đạt loại A1 (cả xã chỉ có mình tôi là A1). Tôi lại được kết nạp Đoàn viên thanh niên, không đi bộ đội thì chỉ có trong chuyện lạ của làng.

Nhận được tin nhập ngũ, tôi reo hò bỏ ngay về nhà khoe với mẹ. Những ngày chờ nhập ngũ tôi chập chờn khó ngủ, đêm thức dậy viết mấy dòng thơ:

"Thật vui biết mấy tự hào,

Mang niềm vinh dự bước vào tuổi xuân.

Gọn gàng sách bút xếp ngăn,

Tạm xa phượng đỏ vây quanh mái trường.

Tạm xa tất cả tình thương,

Bước đi không nổi vấn vương trong lòng.

Trái tim yêu đã rực hồng,

Máu yêu ơi! Đã như dòng suối reo.

Nhanh chăn cất bước vượt đèo,

Con đường giải phóng Đảng giao cho mình “1 (Bài thơ “Con đường giải phóng” viết tháng 4-1966).

Bảy giờ sáng ngày 29 tháng 4 năm 1966, anh Hải mượn xe đạp nhà anh Thập (hàng xóm) chở tôi đến Huyện đội Nam Sách tập trung nhập ngũ. Ở nhà tôi được chuẩn bị hai bộ quần áo, một đôi dép lốp cao su và một mũ cát (giống như mũ cối bây giờ nhưng làm bằng cây dút). Hai anh em đến một sân hợp tác xã rất lớn, thấy thanh niên tập hợp rất đông. Tôi được gọi nhập vào danh sách đơn vị mới, đồng thời nhận cấp phát: mũ cối, chăn, màn, chiếu, ba lô. Tôi ở lại, chia tay anh ra về, hai người nghẹn ngào rơi nước mắt.

Thế là từ hôm nay cuộc đời tôi đã được sang trang mới, luôn xác định quyết tâm phân đấu thật cao, sẵn sàng thích nghi với cuộc sống, công tác của người chiến sĩ trong quân đội.

Toàn bộ danh sách tập trung dưới sự quản lý của Sư đoàn 320B (Sư đoàn huấn luyện bộ đội đi B - vào Nam). Quân số hôm đó khoảng 500 người, tạm thời biên chế: mỗi xã một trung đội, cả huyện một tiểu đoàn.

Ngay trưa hôm đó, sau khi ăn cơm xong, chúng tôi hành quân liên tục, đến đêm thì nghỉ ở huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Hà. Tại đây đơn vị được cấp phát bổ sung thêm quân tư trang đầy đủ. Lính mới chưa bao giờ đi bộ bốn, năm chục cây số, thì đây là lần thử thách đầu tiên. Chân tay rã rời, mệt mỏi, bàn chân phồng rộp, nhưng ai cũng vui vẻ hăng hái. Dừng chân nghỉ hành quân là phân công mỗi người một việc, rất chu đáo đối với dân địa phương.

Hôm sau ăn sáng xong đoàn lại hành quân tiếp tục, nửa đêm thì đến một khu rừng Nho Quan, Ninh Bình, bên cạnh là một bản dân tộc Mường rất lớn. Đêm hôm nay chúng tôi được ngủ ở nhà sàn của đồng bào dân tộc, phải dựa vào dân để làm doanh trại. Khu rừng Nho Quan có các địa danh: Ba Dốc, rừng Lim, có con sông Đáy chảy ngang thị xã Phủ Lý. Dân tộc ở đây cũng đông, chủ yếu là người Mường. Chúng tôi làm lán trại hôm nay là ngày thứ hai, tất cả tài năng, trí tuệ và sự khéo léo của anh bộ đội được phát huy cao độ.

Mỗi người được cấp phát một con dao phát nhọn đầu, một cái xẻng cá nhân, cả tiểu đội được trang bị thêm hai cái búa chim. Mọi việc như chặt cây, đẽo gỗ, cắt cỏ tranh, mổ gà, heo, tất cả đều bằng dao. Suốt hai ngày trời mỗi tiểu đội đã hoàn thành xong một cái lán để ở, một giếng nước và một bếp Hoàng Câm. Ngoài ra ai cũng phải có hố cá nhân (có nắp) để trú bom đạn. Đây cũng là thử thách thứ hai của các chiến sĩ trong những ngày đầu quân ngũ. Đêm đầu tiên các anh bộ đội đã có nhà và cuộc sống độc lập riêng biệt.

Chúng tôi được biên chế chính thức vào đơn vị Đại đội 3, Trung đoàn 4, Sư đoàn 320B. Lán trại của đơn vị quay lưng dựa vào vách núi, trước mặt là rừng cây Ba Gạc thưa, một loại cây cao trên ba mét, lá giống như bàn tay người. Sau này ai cũng bị ghẻ ngứa, lấy lá nấu nước tắm và sát vào da là khỏi.

Hôm nay tuần đầu tiên chúng tôi được học đội ngũ, điều lệnh nội vụ, tiếp theo học các nội quy, quy định, chế độ, đường lối chính sách của Đảng về sự nghiệp giải phóng miền Nam. Nói tóm lại là học chính trị và quân sự. Các tuần tiếp theo học sử dụng, tháo lắp các loại súng bộ binh: súng ngắn, súng CKC AK, trung liên, đại liên, B40, B41, các loại lựu đạn, thủ pháo, mìn, đánh bộc phá. Học kỹ thuật lăn, lê, bò nhoài, đào giao thông hào, làm hầm hố, đánh lô cốt, vượt phá dây thép gai, kỹ thuật đánh trận ban ngày, ban đêm.

Cuối cùng là kiểm tra bắn đạn thật, ném lựu đạn, bộc phá thật. Kết quả bắn đạn thật tôi được 28 điểm, ai đạt 30 điểm thì được thưởng một tuần về phép thăm gia đình.

Thời gian biểu sinh hoạt buổi tôi của đơn vị như sau:

Thứ hai: sinh hoạt Tiểu đội.

Thứ ba: sinh hoạt Trung đội.

Thứ tư: sinh hoạt Đại đội.

Thứ năm: sinh hoạt Đảng, Đoàn.

Thứ sáu: tất cả đi lấy gạo.

Thứ bảy: sinh hoạt văn hóa, văn nghệ.

Chủ nhật: nghỉ tự do trong đơn vị.

Ban ngày sáng, chiều ra bãi đồi tập quân sự từ thứ hai đến thứ bảy. Sáng chủ nhật thường là nghe thời sự, học chính trị hoặc là sinh hoạt tiểu đoàn, buổi chiều đi lấy cui, giúp anh nuôi, củng cố công sự... giờ giấc của đơn vị cũng rất chặt chẽ.

Buổi sáng báo thức 5 giờ hoặc 5 giờ 30 phút tùy theo mùa, vệ sinh cá nhân, 15 phút thể dục, 15 phút ăn sáng, sau đó tập hợp hành quân ra bãi đồi (thao trường) luyện tập quân sự. Việc sinh hoạt được quy định rất nền nếp:

- Cách buộc giày, mắc màn đi ngủ, cách gấp chăn gối, phải xếp vuông vắn thẳng tắp như se chỉ. Súng đạn phải để thống nhất đều tăm tắp. Nói tóm lại mọi vật dụng phải rất gọn gàng, để thống nhất có hàng có lối, thực hiện dễ lấy, dễ thấy, dễ kiểm tra, đồng thời phải mỹ quan, đẹp mắt. Lễ nghi, xưng hô phải đúng quy định, gặp nhau ở ngoài đường cấp dưới chào cấp trên trước, cũng phải học cả cách chào.

Tất cả cán bộ, chiến sĩ phải thuộc lòng ít nhất năm bài hát: Quốc ca; Quốc tế ca, lãnh tụ ca; Kết đoàn; Vì nhân dân quên mình.

Đặc biệt là phải thuộc mười lời thề danh dự của Quân đội nhân dân Việt Nam. Quân đội muốn đánh thắng kẻ thù phải kỷ luật như thế đó! “Kỷ luật là sức mạnh của quân đội”, tính thống nhất phải rất cao, muôn người như một.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn