Cuốn sách như những thước phim về một thời thị xã Hải Dương được giải phóng, chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ bằng không quân và bước chân đầu tiên, cảm xúc đầu tiên khi tác giả nhập ngũ... cho đến khi vào chiến trường miền Đông Nam Bộ, cứ thế cuốn hút, lôi cuốn người đọc hết từ bất ngờ này đèn bất ngờ khác.
Tác giả Phạm Trùng Dương sinh năm 1948, tại Ngọc Uyên - Ngọc Châu, thành phố Hải Dương. Hiện ông đang sống tại phường 10 quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Thành phố mà ông đã vinh dự có mặt vào thời khắc đặc biệt để tiếp quản trong niềm vui và nước mắt dâng tràn.
Năm 1966, trong lúc cuộc chiến tranh vào thời điểm ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ông đã cùng đồng đội vượt Trường Sơn vào chiến trường miền Đông Nam Bộ đánh Mỹ, con đường hành quân đầy gian khổ, ác liệt đã đưa ông trở thành một chiến sĩ giải phóng quân tại chính mảnh đất bom đạn một thời khói lửa bên dòng sông Chiêu.
Người lính trẻ Phạm Trùng Dương sinh ra trên đất Bắc đã hòa vào dòng chảy của biết bao thế hệ người Việt Nam lên đường đánh Mỹ. Thế hệ đã làm nên lịch sử hào hùng của một dân tộc anh hùng mà nhà thơ Tố Hữu đã từng viết: "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai". Chính khát vọng và với quyết tâm đánh tháng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đã giúp ông cùng đồng đội vượt qua biết bao khó khăn, của sốt rét, của rắn cắn, của chất độc hóa học để đi đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, non sông thu về một dải.
Trang hồi ức "Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân" giàu chi tiết, hình ảnh xúc động chân thực, có con người, sự kiện lịch sử cụ thể, qua đó khắc họa được chân dung của một người lính Phạm Trùng Dương. Cuốn sách kể lại cho độc giả hiểu hơn về những cơn sốt rét đến mức sức trai tráng như ông không thể theo đơn vị hành quân được, tác giả phải lùi lại phía sau đi "thu dung", một từ rất quen thuộc của một thời khói lửa mà bạn trẻ ngày nay không thế hiểu được. Bản thân người chiến sĩ trẻ Phạm Trùng Dương bị nhiễm chất độc hóa học đến mức cả hai mắt không nhìn thấy đường hành quân, đồng đội đã dắt tay ông vượt núi, băng rừng để đến đích vào căn cứ Tây Ninh nơi Trung ương Cục miền Nam.
Phần đầu của tập hồi ức là những trang văn thấm đẫm chất thơ, chất nhân văn với nụ cười của mẹ nét phúc hậu của bà với những kỷ niệm về thời thơ ấu của tác giả trên mảnh đất quê hương Hải Dương địa linh, nhân kiệt. Tuổi ấu thơ ấy ông được sinh ra và chứng kiến những sự kiện lịch sử đổi thay của đất nước. Rồi những trang hồi ức ảm ánh người đọc về năm tháng nhọc nhằn mà chính tác giả đã phải trải qua, chống chọi lại với bệnh tật để sự sống của mình được hồi sinh. Ai có thể tưởng tượng ông đã phải vượt qua sự khắc nghiệt như thế nào thì mơi yêu mình, yêu sự sống đến thế.
Thuở nhỏ, cậu học trò Phạm Trùng Dương bị mắc một căn bệnh mà ngày ấy khoa học không thể chữa được bây giờ có tên gọi là "thương hàn". Sau bao nhiều năm tháng chữa trị tại bệnh viện cuối cùng bác sĩ trả về, nói không thể sống được bao lâu, mẹ ông khóc cạn nước mắt trong lo âu. Nhưng với tình yêu thương của mẹ, của bà, ông đã được cứu sống. Trong tình huống "hiêm nghèo" một người hàng xóm tốt bụng đã đóng cho ông một chiếc quan tài nhưng cuối cùng chiếc quan tài đó phải đốt đi. Đồng hành theo thời gian của "Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân" là biết bao những chi tiết của một thời ác liệt được chính tác giả là một nhân chứng lịch sử kể lại sống động, hấp dẫn bạn đọc và đôi chỗ làm người đọc không cầm được nước mắt.
Cũng như biết bao đồng đội của ông biền biệt ra đi cầm súng chiến đấu, người còn, người mất, những năm tháng ấy xa quê nhà, xa bạn bè, xa mẹ già, xa người thân mãi sau cuộc chiến ông mới về thăm gia đình, cảm xúc đó "thăng hoa" để ông thể hiện trong trang sách xúc động lòng người: "Dắt xe vào tới sân, hàng xóm và họ hàng đã ào tới, tất cả vây quanh. Trong lòng tôi nao nao sung sướng. Mẹ tôi lao ra khóc, rồi túm lấy tôi, bà chẳng nói được điều gì, cứ khóc hoài.
- Nó đã về! Nó sống đây rồi! Việc gì mà chị khóc dữ vậy!
Mấy bà dì: bà Tụng, bà Tích, bà Nhận rồi mấy ông cậu cùng các em, họ hàng vây lấy xung quanh. Tôi buông tay, chiếc xe đạp đổ kềnh xuống. Bước vào nhà, chiếc ba lô tuột khỏi vai lúc nào không biết, tôi đứng lặng đi nhìn mọi người. Cái sung sướng nghẹn ngào làm tôi như mất trí. Mọi người coi tôi như "người từ cõi chết trở về". Không khí trong nhà như một buổi liên hoan đầy tiếng cười nói và xen lẫn tiếng khóc cùng nước mắt rơi.
Tôi ngồi xuống ngắm nhìn bộ tràng kỷ có từ dạo mới đi bộ đội. Rồi ngước mắt lên tường thấy bằng "Tổ quốc ghi công liệt sĩ Phạm Văn Hải". Lòng tôi đau quặn, người xìu xuống, hai tay ôm mặt nức nở khóc. Trong đầu tôi chập chờn hiện lên hình ảnh anh vẫy tay tiễn đưa tôi lên đường vào Nam ở ga Cẩm Giàng... Anh đã hy sinh, xương cốt anh đã nằm sâu vĩnh viễn dưới chân dồi Chóp Nón ở tây nam thành phố Huế mà gia đình đã nhiều lần tìm không được..."1 (Đoạn trích trong chương ba "Trở về quê mẹ", tr.125, 126)
Cuốn sách giúp người đọc bắt gặp lại một không khí vô cùng khẩn trương của những ngày đầu quân giải phóng miền Nam tiếp quản thành phố Sài Gòn vô cùng tưng bừng. Hình ảnh Sài Gòn rợp bóng cờ hoa và niềm vui trào nước mắt trong ngày gặp lại của đồng bào và chiến sĩ cả hai miền Nam - Bắc. Đó là thời khắc ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông trực tiếp tham gia tiếp quản thuộc Cục Hậu cần miền Nam - Quân giải phóng. Làm nhiệm vụ tiếp quản Căn cứ 10 - Trung tâm sản xuất quân trang của chế độ cũ Sài Gòn - ở quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Rồi đến khi đất nước hòa bình bước vào xây dựng sau chiến tranh, tiếp quản Sài Gòn với những công việc ngổn ngang và những suy tư một thời gian khó mà tác giả từng sống làm doanh nghiệp từ ngày đầu mới giải phóng không ít những khó khăn, bỡ ngỡ. Cũng như rất nhiều người lính khác khi hoàn thành nhiệm vụ cầm súng của mình, ông ở lại mảnh đất Sài Gòn như là một công dân hăng hái xây dựng lại thành phố với bao cảm xúc, tư duy, vượt qua cơ chế mà hôm nay thế hệ sinh sau 1975 không thể hình dung nổi. Rồi một ngày tác giả nghỉ hưu ở tuổi 43 để lao vào sản xuất kinh doanh bằng chính nghị lực, trái tim của một người chiến sĩ giải phóng quân.
Đây là một cuốn hồi ức của cá nhân có giá trị tham khảo, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân xin trân trọng và giới thiệu với bạn đọc trong và ngoài quân đội tập hồi ức "Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân" của tác giả Phạm Trùng Dương rất mong độc giả đón dọc.
NHÀ XUẤT BẢN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN | |
Logged
|
|
|
|
thongdiepthoigian Thành viên  Bài viết: 438  | 
| Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân« Trả lời #1 vào lúc: 09 Tháng Năm, 2023, 07:45:01 am » | Lời tác giả
Cuốn sách này của tôi kể về thời niên thiếu khắc nghiệt mà tôi đã vượt qua để giành sự sống. Những thăng trầm và những chứng kiến lịch sử như: giải phóng thị xã Hải Dương, chiến tranh phá hoại của Mỹ bằng không quân và những năm tháng của ngày đầu nhập ngũ. Đặc biệt là một chặng đường hành quân đi bộ hăng ngàn cây số, vượt Trường Sơn vào chiến trường miền Nam chống Mỹ. Quyển sách đã kể về cuộc đời hoạt động của một chiến sĩ giải phóng quân mà tôi đã trải qua. Kế tiếp là tôi đã chứng kiến sự giải phóng của đất nước Chùa Tháp Carnpuchia, và giai đoạn hào hùng lịch sử, nhất là chứng kiến Đại thắng mùa xuân 1975 - Giải phóng Sài Gòn (30-4), chiến dịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Tôi cũng kể về những ngày tháng tiếp quản Sài Gòn, rợp trời cờ hoa và niềm vui trào dâng nước mắt. Sau đại thắng, hàng triệu người lính giải ngủ, tiếp tục trở về xây dựng làng xôm quê hương. Còn tôi vẫn ở lại quân đội để xây dựng xí nghiệp quốc phòng, xây dựng ngành hậu cần quân đội. Những thành tích và trưởng thành trong xây dựng, những bông hoa mình hái đã đưa tôi đến đất nước Liên Xô vĩ đại. Tôi sung sướng, hạnh phúc đến vô bờ khi đi trên cánh đồng tuyết, cánh đồng táo thơm ngon đầy sắc lạ. Tôi ước mơ khi trở về sẽ xây dựng nhiều xưởng sản xuất giầy cho quân đội và thành phố mang tên Bác Hồ - xứng đáng như người chiến sĩ giải phóng quân năm xưa. Ước mơ thì bát ngát bao la... Nhưng hoàn cảnh và môi trường đã bảo tôi dừng lại ở tuổi 43 đúng vào ngày sinh nhật 14 tháng 4 năm 1991, để chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn tự xóa nghèo của bản thân. Tôi thầm cảm ơn cách mạng, cảm ơn Đảng và quân đội đã khéo dẫn dắt tôi đi một cách vô hình, cho tôi sang chân trời mới.
Toàn bộ nội dung quyển sách hoàn toàn dựa một cách trung thực vào các trang nhật ký của tôi. Những trang nhật ký ấy tôi đã viết nó từ tuối thơ cho đến hôm nay. Có quyển nhật ký vẫn còn lung linh trong tủ kính, nhưng có quyển đã mất trong trận càn mà tôi phải hồi tưởng lại, bởi nó không thể nào quên và chẳng bao giờ quên.
Khi viết quyển sách này tôi mong muốn lưu truyền cho con cháu mai sau. Để chúng hiểu hơn về thời kỳ lịch sử của đất nước mà tôi đã từng gắn bó với bao mồ hôi cùng máu và hoa. Chúng sẽ tự hào và noi theo gương ông cha để trở thành người có ích cho xã hội.
Quyển sách xin tình nguyện làm một hạt cát trong sự nghiệp trồng người và tư liệu vườn hoa của chiến sĩ giải phóng quân.
PHẠM TRÙNG DƯƠNG 30-10-2014 | |
Logged
|
|
|
|
thongdiepthoigian Thành viên  Bài viết: 438  | 
| Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân« Trả lời #2 vào lúc: 09 Tháng Năm, 2023, 07:46:12 am » | Chương một THỜI THƠ ẤU
Ngồi ở mũi thuyền gỗ, nhìn thấy mấy bông hoa bèo màu tím đẹp quá. Bé cúi người với tay lấy. Thùm một cái xuống ao, con thuyền chòng chành. Mẹ tôi quay lại thấy mất con. Bà nhìn xuống ao bọt tăm nổi liên tục trên mặt nước. Nhào xuống, một tay bám mạn thuyền, một tay khua khoăng túm được đầu bé. Bà túm tóc lôi bé lên, vừa bám thuyền vừa kéo vào bờ và kêu thất thanh:
- Có ai không cứu tôi với! cứu tôi với!
Mọi người trong nhà ông bà ngoại ở gần đó hốt hoảng chạy ào ra, xốc lấy bé lên bờ làm các động tác cứu người đuối nước. May quá có cả ông Vỵ (cậu ruột tôi) đã học y tá ba tháng. Cuối cùng mọi người và ông đã cứu được bé:
- Nó thở được rồi! nó mở mắt rồi kìa!
Niềm vui này, sung sướng này đã hiện rõ trên khuôn mặt mẹ tôi và mọi người, nguồn vui giàn nước mắt.
Sau ngày tôi thoát chết đuối, ba mẹ con tôi dọn về ở bên nội ông bà Đoan số 95 phố Tam Giang thị xã Hải Dương. Đầu tháng 9 năm 1954, tôi được ông Phạm Văn Đoan dắt đến "trường con gái" (giờ là Trường Võ Thị Sáu) mặt tiền đường Trần Hưng Đạo để học lớp vỡ lòng. Thời đó giáo dục thuộc Pháp ở thị xã Hải Dương có hai trường Nam và Nữ (gọi là con trai, con gái). Không biết dạo đó tôi có biết hát và hát hay hay không? Cũng không nhớ rõ, nhưng được thầy giáo chỉ định là quảng ca của lớp. Lớp vỡ lòng dạo chưa giải phóng thị xã gọi là lớp 5, lớp 1 là lớp 4... cứ thế lớp 4 là lớp cuối của bậc tiểu học. Từ ngày đó hôm nào tôi cũng được ông đưa đón đi học.
Trưa ngày 30 tháng 10 năm 1954 hai ông cháu đang đi trên đường Trần Hưng Đạo về nhà thì thấy tiếng còi ở rạp chiếu bóng Hòa Bình hú vang lên liên tục không ngớt. Tiếp theo là dọc đường tất cả mọi người đổ ra đầy: reo hò, hát vang bài: "Sòn sòn sòn đô sòn, sòn sòn sòn đô rê... dân Liên Xô, vui hát trên đồng hoa, dân Nam ta tranh đấu cho Hòa Bình"... Mọi người ai cũng gõ trống, chiêng, thậm chí lấy chậu thau, xoang nồi ra để gõ, nét mặt hân hoan vui mừng không sao tổ xiết. Tôi ngước mắt lên hỏi ông:
- Ông ơi! Có gì mà mọi người vui vậy?
Ông cùng vui cười giòn giã và nói:
Giải phóng thị xã rồi! Hòa Bình về rồi đấy cháu ạ! Thế là hai ông cháu vừa đi vừa như chạy về nhà. Ngày đó tôi ở với mẹ và anh Phạm Văn Hải tại số nhà 97 phố Tam Giang, thị xã Hải Dương. Đó là căn nhà của một gia đình di cư vào Nam đang bỏ trống, ở bên trong chiếc giường tre dài suốt cả gian nhà. Một hiện vật còn sót lại của bọn Tàu Tưởng thay mặt đồng minh đến ở tiếp quản, mà dân ta phải làm phục vụ chúng dạo chưa giải phóng thị xã. Ở trong căn nhà trông chỉ có vạt giường tre nên ba mẹ con vẫn sinh hoạt ăn uống bên nhà ông bà ở bên cạnh. Còn anh Hải, anh trai tôi đang học nghề may ở nhà may Tân Đức. Anh học gần hai năm rồi mà vẫn chưa ra nghề vì bị "bệnh tâm thần". Mỗi lần lên cơn, anh cầm đòn gánh, gậy phang bừa bãi rồi hô to: "Hung thần! Hung thần! nó là hung thần đấy!". Mẹ tôi, ông bà hoang mang vô cùng đưa anh đi bệnh viện chữa chạy khoảng nửa tháng thì hết bệnh. Mẹ tôi đi xem thầy, thầy nói nhà đó có ma nên cả nhà, không dám ngủ ở căn nhà đó nữa.
Hòa bình được lập lại, tôi chuyển về học ở trường tiểu học Tô Hiệu, cuối đường Quang Trung, thị xã Hải Dương. Đang học lớp 2 lại bị một trận ốm rất nặng (lúc đó gọi là bệnh thương hàn), mẹ đưa tôi đi chữa ở bệnh viện thị xã, điều trị sáu tháng nhưng không khỏi. Bác sĩ nói:
- Chị ơi! Đằng nào cháu cũng qua khỏi, chị nên đưa cháu về nhà chăm sóc, cho đỡ tốn kém. Cháu sống được ngày nào hay ngày đó. Mẹ khóc và buồn vô cùng, sau đó mẹ cũng quyết định đưa tôi về nhà. Tôi ở trong gian nhà nhỏ khoảng mười sáu mét vuông. Trước đây ông bà dùng làm bếp. Nằm trên một cái giường gỗ nhỏ và tôi ở đó một mình. Một năm trời rồi, một thằng bé bảy tuổi không được ăn cơm, cháo, mà chỉ uống nước cơm, sữa. Bác sĩ nói nếu ăn cơm hoặc đồ cứng sẽ thủng ruột chết luôn. Tôi nằm bất động, người chỉ còn da bọc xương, không được tắm, da xám xịt sần sùi như da cóc. Có một hôm bà Ba Được hàng xóm bên cạnh nhà làm nghề thợ mộc và buôn bán tre nứa, nói với mẹ tôi:
- Lúc nó còn là đứa trẻ khỏe mạnh, ngoan dễ thương, tôi không giúp gì được cho cháu, nay nó sắp đi rồi, tôi tặng cháu bộ quan tài tốt. Mẹ tôi xót xa ứa nước mắt.
Ngày 7 tháng 5 năm 1955 là ngày tổ chức đám cưới của ông chú Phạm Văn Hân, mọi người ra vào tấp nập, vui nhộn, ăn uống tưng bừng lắm. Mà tôi nằm liệt một mình trong phòng tôi, như ở dưới nhà xác. Bà Hoàng Thị Thu (bà nội) vì thương thằng cháu bé nhỏ bị bệnh nặng, đến cạnh giường nét mặt rầu rĩ nói:
- Cháu thèm ăn gì không bà cho? Hay bà cho cháu ăn xôi gà nhé!
Tôi bất động không nói được, mà chỉ gật nhẹ! Sau đó bà mang cho tôi một cái đùi gà, góc đĩa xôi. Tôi há mồm nhai ngon lành, đang ăn được một nửa thì chú ập vào hét lên:
- Bà định giết nó hay sao? Chị Phòng mà biết thì chết thôi!
Bà nói:
- Đằng nào nó cũng chết, đừng để nó thèm, nó đói! Chú nói vậy thôi, nhưng bà vẫn lờ đi cho tôi ăn, vì biết rằng thằng cháu chẳng còn sống được bao lâu nữa.
Sau ngày đó bà cứ cho tôi ăn, thấy tôi ăn được bà cho ăn đồ mềm và cả cơm nữa. Kỳ lạ thay tôi không chết như lời bác sĩ dặn trước khi ra viện, mà lại khỏe ra. Từ cái bụng đen xì to như cái thúng con, bao ngày không đi đại tiện được, thì giờ đây tôi đi xôi xả, liên tục mấy ngày.
Cái bụng cóc đã xẹp đi. Tôi ăn rất nhiều, lúc nào cùng thèm và đói. Mẹ tôi mừng lắm, lo cho ăn và bồi dường cho tôi. Sức khỏe khá dần, tôi đã nói được, nhưng chưa thể tự ngồi dậy. Mẹ đã mua ba lạng cao hổ cốt cho tôi ăn để mau phục hồi sức khỏe. Tôi được bà giúp tập ngồi, tập đứng, tập đi, đã có da, có thịt hơn trước nhiều. Khi đã ngồi, đứng được tôi tỉ mỉ bóc từng lớp da khô đen xì, lớp da trắng được lộ dần khắp cơ thể. Không ngờ rằng di chứng và hậu quả để lại là tôi đã mắc bệnh da khô, vì lớp mỡ giữ ẩm dưới da bị teo lại, ăn bệnh này nó đã hành hạ, đeo đuổi tôi mãi đến khi vào miền Nam chống Mỹ. Đặc biệt là khi trời lạnh hanh khô của miền Bắc. | |
Logged
|
|
|
|
thongdiepthoigian Thành viên  Bài viết: 438  | 
| Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân« Trả lời #3 vào lúc: 09 Tháng Năm, 2023, 07:47:48 am » | Ở bếp nhà có treo một bị hành giống để trồng, không hiểu sao tôi thèm hành sống lạ kỳ, thế là lấy trộm ăn hết. Khi mẹ cần hành giống để trồng thì chỉ còn bị hành không treo lủng lẳng.
Bà Ba Được hàng xóm, người đã cho cỗ quan tài nói với mẹ tôi:
- Chị nói thằng Dương đốt cái quan tài ấy đi!
Thế là với sự hỗ trợ của hai lít dầu lửa, tôi đã đốt nó sau nhà ông Đoan. Nhìn ngọn lửa cháy bừng bừng mà đầu tôi chao đi như một cánh diều trên bầu trời mùa thu đầy nắng ấm. Như vậy là sau gần hai năm vật lộn với bệnh tật và thần chết, tôi đã khỏe và học lại lớp 2 của trường tiểu học Tô Hiệu. Còn ông nội vẫn hàng ngày còng lưng với mái đầu bạc trắng cuốc đất trồng rau ở bờ sông con, bên kia đê trước cửa nhà. Mảnh vườn nhỏ khoảng hơn trăm mét vuông đầy sỏi đá đã phủ màu xanh của các loại rau, nguồn sống chính của ông bà lúc đó. Mẹ của tôi thì buôn bán ngược xuôi để nuôi hai con ăn học. Lúc thì buôn cá, buôn rươi, mua vải thiều đi Hà Nội, Hải Phòng bán. Long đong cả cuộc đời, chồng thì mất tích ở miền Nam. Các con thì thay nhau đau ốm. Mẹ kiếm được đồng nào cũng nuôi bệnh viện và bác sĩ hết sạch. Mỗi khi nhớ lại, hình ảnh mẹ đã in đậm trong ký ức của tôi, bà là người phụ nữ rất Việt Nam, rất đúng với câu ca dao quen thuộc của người Việt: "Gánh cực mà vực nên non / Còng lưng mà chạy cực còn theo sau".
Tôi đã ghi nhận mình được cứu sống là nhờ đám cưới của chú Hân, đặc biệt là bà Hoàng Thị Xuyến đã cứu tôi. Bây giờ ảnh của bà được tôi phóng to đưa lên bàn thờ cùng với mẹ tôi ở tại căn nhà: đường Nguyễn Oanh, phường 7, quận Gò vấp, Thành phỏ Hồ Chí Minh. Tôi mãi nhớ ơn bà, người phúc hậu, nhân từ. Con người ta sau thời gian đi xa trở về, bỗng cảm thấy lớn thêm lên và sáng dạ ra là thế! Còn tôi sau lần thoát cửa tử thần đã chai sạn, không bao giờ còn sợ chết và càng yêu cuộc sống này đến lạ lùng.
Sau lần thoát chết, ba mẹ con tôi về ở nhờ ông bà ngoại trong Ngọc Uyên, cách phố Tam Giang gần hai cây số. Dọc đường đi ôi chao! Rợp trời cờ đỏ sao vàng. Cờ to thì treo ở đền chùa trụ sở, cờ nhỏ in bằng giấy phấp phới trên tay tất cả mọi người, trẻ già, trai gái. Khắp hai cánh đồng sau, trước cửa đình làng Ngọc Uyên là rợp bóng cờ đuôi nheo. Mỗi thửa ruộng đều có cắm tấm biển tên chủ đất, bên trên là cờ đỏ bay bay theo chiều gió. Thế là bà con nông dân bần cố đã có trâu cày ruộng cấy rồi! Đội cải cách ruộng đất đã về làng ngày nào cũng họp với nông dân. Cảnh bà con bần cố nông đấu tố, kế khổ cuộc đời với đội cải cách, trước mặt địa chủ đã diễn ra khắp nơi trong làng xã. Theo tôi được biết thời cải cách ruộng đất, đã mang lại nhiều niềm vui cho bà con nông dân, thực hiện công bằng xã hội.
Cải cách ruộng đất xong là đến phong trào hợp tác xã nông nghiệp, vì neo người gia đình tôi xung phong vào hợp tác xã đầu tiên.
Năm 1958 là năm đầu thi hành luật nghĩa vụ quân sự của miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Trước khi anh tôi đi bộ đội, mẹ quyết định lấy vợ cho anh. Anh Hải lúc đó hai mươi mốt tuổi, còn chị tên là Chu Thị Dứa mười chín tuổi, con một ông địa chủ làng Nhân Nghĩa, ở bên kia sông Thái Bình, đối diện làng Ngọc Uyên. Chẳng có mối lái gì! Bởi anh học phổ thông cùng với anh Chu Văn Nha là anh trai của chị dâu tôi.
Mẹ tôi có bàn chuyện cưới xin với ông bà Đoan bên nội, ở 95 Tam Giang, thị xã Hải Dương và xin được đưa cả nhà ra ở cùng với ông bà sau đám cưới. Ông, bà, chú thím Hân đã nhất trí. Vậy là đầu năm 1958, ca nhà tôi đã về ở lại với ông bà nội, đám cưới anh tôi đã diễn ra. Sau một tháng anh Hải lên đường nhập ngũ.
Anh đi bộ đội, gia đình chỉ còn lại ba mẹ con, ăn chung một bếp, ông bà, chú thím Hân ăn riêng. Tôi thì đang học lớp ba trường Tô Hiệu ở thị xã. Có một nghịch cảnh là: nhà tôi ở phố, nhưng lại làm ruộng có trâu bò, thóc lúa, rơm rạ phơi phóng với lại ở chung với chú thím, ông bà nên chật chội, bất tiện đủ thứ, nhiều sự việc đã phát sinh.
Để giải quyết những mâu thuẫn đó, mẹ tôi đã quyết định làm nhà riêng ở mảnh vườn đã được đội cải cách chia trong làng Ngọc Uyên. Dạo đó làm nhà khó khăn lắm, cái gì cũng thiếu, nhưng được họ hàng giúp đỡ, mỗi người một tý nên cũng ổn thỏa. Chú Hân ở ngoài phố giúp nửa mái nhà lợp bằng cọ (mà ông mua cung cấp của Nhà nước). Các cậu dì thì giúp công thợ... Mẹ và chị dâu tôi tất bật lo cơm nước phục vụ.
Đang làm nhà thì anh Hải khoác ba lô giải ngủ về nhà vào mùa hè năm 1961. Cánh đồng đang khô cạn thì gặp phải mưa rào, mừng quá! Vừa có thêm nhân lực, vừa có sổ tiết kiệm mà anh chắt chiu mấy năm về đưa cho mẹ. Cả nhà phấn khởi tăng tốc, vậy là căn nhà lá, gỗ xoan đã hoàn thành. Còn tôi đang tung tăng đi học ở lớp 5 trường Ngô Gia Tự, năm đầu của cấp hai.
Sang năm 1962, chị dâu tôi sinh được cháu gái đầu lòng là Phạm Thị Huyền, cả nhà vui rộn hẳn lên, vì bấy lâu nay nhà toàn người lớn. Những ngày đầu năm 1964, tôi đang học lớp bảy, năm cuối của cấp hai. Không khí chiến tranh đã lan ra cả nước. Mỹ tiến hành bắn phá miền Bắc bằng không quân. Trẻ em đến trường phải đội mũ rơm, nam nữ thanh niên, dân quân đi làm đồng phải mang theo súng đạn. Mọi nẻo đường trường học, nhà ở có hầm trú bom đạn, máy bay nhà nọ sang nhà kia, cả làng kết nối bằng hệ thống giao thông hào. Tiếng loa, kẻng báo động máy bay đến diễn ra hàng ngày. |
|
|