Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân
Tác giả Phạm Trùng Dương sinh năm 1948, tại Ngọc Uyên - Ngọc Châu, thành phố Hải Dương. Hiện ông đang sống tại phường 10 quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Thành phố mà ông đã vinh dự có mặt vào thời khắc đặc biệt để tiếp quản trong niềm vui và nước mắt dâng tràn. Năm 1966, trong lúc cuộc chiến tranh vào thời điểm ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ông đã cùng đồng đội vượt Trường Sơn vào chiến trường miền Đông Nam Bộ đánh Mỹ, con đường hành quân đầy gian khổ, ác liệt đã đưa
Ngày 7 tháng 5 năm 1955 là ngày tổ chức đám cưới của ông chú Phạm Văn Hân, mọi người ra vào tấp nập, vui nhộn, ăn uống tưng bừng lắm. Mà tôi nằm liệt một mình trong phòng tôi, như ở dưới nhà xác. Bà Hoàng Thị Thu (bà nội) vì thương thằng cháu bé nhỏ bị bệnh nặng, đến cạnh giường nét mặt rầu rĩ nói:
- Cháu thèm ăn gì không bà cho? Hay bà cho cháu ăn xôi gà nhé!
Tôi bất động không nói được, mà chỉ gật nhẹ!
Sau đó bà mang cho tôi một cái đùi gà, góc đĩa xôi. Tôi há mồm nhai ngon lành, đang ăn được một nửa thì chú ập vào hét lên:
- Bà định giết nó hay sao? Chị Phòng mà biết thì chết thôi!
Bà nói:
- Đằng nào nó cũng chết, đừng để nó thèm, nó đói! Chú nói vậy thôi, nhưng bà vẫn lờ đi cho tôi ăn, vì biết rằng thằng cháu chẳng còn sống được bao lâu nữa.
Sau ngày đó bà cứ cho tôi ăn, thấy tôi ăn được bà cho ăn đồ mềm và cả cơm nữa. Kỳ lạ thay tôi không chết như lời bác sĩ dặn trước khi ra viện, mà lại khỏe ra. Từ cái bụng đen xì to như cái thúng con, bao ngày không đi đại tiện được, thì giờ đây tôi đi xôi xả, liên tục mấy ngày.
Cái bụng cóc đã xẹp đi. Tôi ăn rất nhiều, lúc nào cùng thèm và đói. Mẹ tôi mừng lắm, lo cho ăn và bồi dường cho tôi. Sức khỏe khá dần, tôi đã nói được, nhưng chưa thể tự ngồi dậy. Mẹ đã mua ba lạng cao hổ cốt cho tôi ăn để mau phục hồi sức khỏe. Tôi được bà giúp tập ngồi, tập đứng, tập đi, đã có da, có thịt hơn trước nhiều. Khi đã ngồi, đứng được tôi tỉ mỉ bóc từng lớp da khô đen xì, lớp da trắng được lộ dần khắp cơ thể. Không ngờ rằng di chứng và hậu quả để lại là tôi đã mắc bệnh da khô, vì lớp mỡ giữ ẩm dưới da bị teo lại, ăn bệnh này nó đã hành hạ, đeo đuổi tôi mãi đến khi vào miền Nam chống Mỹ. Đặc biệt là khi trời lạnh hanh khô của miền Bắc.
Ở bếp nhà có treo một bị hành giống để trồng, không hiểu sao tôi thèm hành sống lạ kỳ, thế là lấy trộm ăn hết. Khi mẹ cần hành giống để trồng thì chỉ còn bị hành không treo lủng lẳng. Bà Ba Được hàng xóm, người đã cho cỗ quan tài nói với mẹ tôi: - Chị nói thằng Dương đốt cái quan tài ấy đi! Thế là với sự hỗ trợ của hai lít dầu lửa, tôi đã đốt nó sau nhà ông Đoan. Nhìn ngọn lửa cháy bừng bừng mà đầu tôi chao đi như một cánh diều trên bầu trời mùa thu đầy nắng ấm. Như vậy là sau gần hai năm vật lộn với bệnh tật và thần chết, tôi đã khỏe và học lại lớp 2 của trường tiểu học Tô Hiệu. Còn ông nội vẫn hàng ngày còng lưng với mái đầu bạc trắng cuốc đất trồng rau ở bờ sông con, bên kia đê trước cửa nhà. Mảnh vườn nhỏ khoảng hơn trăm mét vuông đầy sỏi đá đã phủ màu xanh của các loại rau, nguồn sống chính của ông bà lúc đó. Mẹ của tôi thì buôn bán ngược xuôi để nuôi hai con ăn học. Lúc thì buôn cá, buôn rươi, mua vải thiều đi Hà Nội, Hải Phòng bán. Long đong cả cuộc đời, chồng thì mất tích ở miền Nam. Các con thì thay nhau đau ốm. Mẹ kiếm được đồng nào cũng nuôi bệnh viện và bác sĩ hết sạch. Mỗi khi nhớ lại, hình ảnh mẹ đã in đậm trong ký ức của tôi, bà là người phụ nữ rất Việt Nam, rất đúng với câu ca dao quen thuộc của người Việt: "Gánh cực mà vực nên non / Còng lưng mà chạy cực còn theo sau". Tôi đã ghi nhận mình được cứu sống là nhờ đám cưới của chú Hân, đặc biệt là bà Hoàng Thị Xuyến đã cứu tôi. Bây giờ ảnh của bà được tôi phóng to đưa lên bàn thờ cùng với mẹ tôi ở tại căn nhà: đường Nguyễn Oanh, phường 7, quận Gò vấp, Thành phỏ Hồ Chí Minh. Tôi mãi nhớ ơn bà, người phúc hậu, nhân từ. Con người ta sau thời gian đi xa trở về, bỗng cảm thấy lớn thêm lên và sáng dạ ra là thế! Còn tôi sau lần thoát cửa tử thần đã chai sạn, không bao giờ còn sợ chết và càng yêu cuộc sống này đến lạ lùng.
Sau lần thoát chết, ba mẹ con tôi về ở nhờ ông bà ngoại trong Ngọc Uyên, cách phố Tam Giang gần hai cây số. Dọc đường đi ôi chao! Rợp trời cờ đỏ sao vàng. Cờ to thì treo ở đền chùa trụ sở, cờ nhỏ in bằng giấy phấp phới trên tay tất cả mọi người, trẻ già, trai gái. Khắp hai cánh đồng sau, trước cửa đình làng Ngọc Uyên là rợp bóng cờ đuôi nheo. Mỗi thửa ruộng đều có cắm tấm biển tên chủ đất, bên trên là cờ đỏ bay bay theo chiều gió. Thế là bà con nông dân bần cố đã có trâu cày ruộng cấy rồi! Đội cải cách ruộng đất đã về làng ngày nào cũng họp với nông dân. Cảnh bà con bần cố nông đấu tố, kế khổ cuộc đời với đội cải cách, trước mặt địa chủ đã diễn ra khắp nơi trong làng xã. Theo tôi được biết thời cải cách ruộng đất, đã mang lại nhiều niềm vui cho bà con nông dân, thực hiện công bằng xã hội. Cải cách ruộng đất xong là đến phong trào hợp tác xã nông nghiệp, vì neo người gia đình tôi xung phong vào hợp tác xã đầu tiên. Năm 1958 là năm đầu thi hành luật nghĩa vụ quân sự của miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Trước khi anh tôi đi bộ đội, mẹ quyết định lấy vợ cho anh. Anh Hải lúc đó hai mươi mốt tuổi, còn chị tên là Chu Thị Dứa mười chín tuổi, con một ông địa chủ làng Nhân Nghĩa, ở bên kia sông Thái Bình, đối diện làng Ngọc Uyên. Chẳng có mối lái gì! Bởi anh học phổ thông cùng với anh Chu Văn Nha là anh trai của chị dâu tôi. Mẹ tôi có bàn chuyện cưới xin với ông bà Đoan bên nội, ở 95 Tam Giang, thị xã Hải Dương và xin được đưa cả nhà ra ở cùng với ông bà sau đám cưới. Ông, bà, chú thím Hân đã nhất trí. Vậy là đầu năm 1958, ca nhà tôi đã về ở lại với ông bà nội, đám cưới anh tôi đã diễn ra. Sau một tháng anh Hải lên đường nhập ngũ. Anh đi bộ đội, gia đình chỉ còn lại ba mẹ con, ăn chung một bếp, ông bà, chú thím Hân ăn riêng. Tôi thì đang học lớp ba trường Tô Hiệu ở thị xã. Có một nghịch cảnh là: nhà tôi ở phố, nhưng lại làm ruộng có trâu bò, thóc lúa, rơm rạ phơi phóng với lại ở chung với chú thím, ông bà nên chật chội, bất tiện đủ thứ, nhiều sự việc đã phát sinh.
Để giải quyết những mâu thuẫn đó, mẹ tôi đã quyết định làm nhà riêng ở mảnh vườn đã được đội cải cách chia trong làng Ngọc Uyên. Dạo đó làm nhà khó khăn lắm, cái gì cũng thiếu, nhưng được họ hàng giúp đỡ, mỗi người một tý nên cũng ổn thỏa. Chú Hân ở ngoài phố giúp nửa mái nhà lợp bằng cọ (mà ông mua cung cấp của Nhà nước). Các cậu dì thì giúp công thợ... Mẹ và chị dâu tôi tất bật lo cơm nước phục vụ. Đang làm nhà thì anh Hải khoác ba lô giải ngủ về nhà vào mùa hè năm 1961. Cánh đồng đang khô cạn thì gặp phải mưa rào, mừng quá! Vừa có thêm nhân lực, vừa có sổ tiết kiệm mà anh chắt chiu mấy năm về đưa cho mẹ. Cả nhà phấn khởi tăng tốc, vậy là căn nhà lá, gỗ xoan đã hoàn thành. Còn tôi đang tung tăng đi học ở lớp 5 trường Ngô Gia Tự, năm đầu của cấp hai. Sang năm 1962, chị dâu tôi sinh được cháu gái đầu lòng là Phạm Thị Huyền, cả nhà vui rộn hẳn lên, vì bấy lâu nay nhà toàn người lớn. Những ngày đầu năm 1964, tôi đang học lớp bảy, năm cuối của cấp hai. Không khí chiến tranh đã lan ra cả nước. Mỹ tiến hành bắn phá miền Bắc bằng không quân. Trẻ em đến trường phải đội mũ rơm, nam nữ thanh niên, dân quân đi làm đồng phải mang theo súng đạn. Mọi nẻo đường trường học, nhà ở có hầm trú bom đạn, máy bay nhà nọ sang nhà kia, cả làng kết nối bằng hệ thống giao thông hào. Tiếng loa, kẻng báo động máy bay đến diễn ra hàng ngày.



