Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân

Tập hồi ức "Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân" của tác giả Phạm Trùng Dương được chính tay ông mang đến chi nhánh Nhà xuất bản Quân đội nhân dân tại Thành phố Hồ Chí Minh đúng vào dịp kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 25 năm ngày Hội quốc phòng toàn dân (22.12.1944- 22.12.2014). Có thể nói, đọc bản thảo được viết bằng nét chữ viết tay rất đẹp của tác giả Phạm Trùng Dương, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân rất trân trọng những trang viết chân thực, giản dị của một người từn

Lai Châu03/07/2026Quân đội nhân dân (xã nậm mạ)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Chương một
THỜI THƠ ẤU


Ngồi ở mũi thuyền gỗ, nhìn thấy mấy bông hoa bèo màu tím đẹp quá. Bé cúi người với tay lấy. Thùm một cái xuống ao, con thuyền chòng chành. Mẹ tôi quay lại thấy mất con. Bà nhìn xuống ao bọt tăm nổi liên tục trên mặt nước. Nhào xuống, một tay bám mạn thuyền, một tay khua khoăng túm được đầu bé. Bà túm tóc lôi bé lên, vừa bám thuyền vừa kéo vào bờ và kêu thất thanh:

- Có ai không cứu tôi với! cứu tôi với!

Mọi người trong nhà ông bà ngoại ở gần đó hốt hoảng chạy ào ra, xốc lấy bé lên bờ làm các động tác cứu người đuối nước. May quá có cả ông Vỵ (cậu ruột tôi) đã học y tá ba tháng. Cuối cùng mọi người và ông đã cứu được bé:

- Nó thở được rồi! nó mở mắt rồi kìa!

Niềm vui này, sung sướng này đã hiện rõ trên khuôn mặt mẹ tôi và mọi người, nguồn vui giàn nước mắt.

Sau ngày tôi thoát chết đuối, ba mẹ con tôi dọn về ở bên nội ông bà Đoan số 95 phố Tam Giang thị xã Hải Dương. Đầu tháng 9 năm 1954, tôi được ông Phạm Văn Đoan dắt đến "trường con gái" (giờ là Trường Võ Thị Sáu) mặt tiền đường Trần Hưng Đạo để học lớp vỡ lòng. Thời đó giáo dục thuộc Pháp ở thị xã Hải Dương có hai trường Nam và Nữ (gọi là con trai, con gái). Không biết dạo đó tôi có biết hát và hát hay hay không? Cũng không nhớ rõ, nhưng được thầy giáo chỉ định là quảng ca của lớp. Lớp vỡ lòng dạo chưa giải phóng thị xã gọi là lớp 5, lớp 1 là lớp 4... cứ thế lớp 4 là lớp cuối của bậc tiểu học. Từ ngày đó hôm nào tôi cũng được ông đưa đón đi học.


Trưa ngày 30 tháng 10 năm 1954 hai ông cháu đang đi trên đường Trần Hưng Đạo về nhà thì thấy tiếng còi ở rạp chiếu bóng Hòa Bình hú vang lên liên tục không ngớt. Tiếp theo là dọc đường tất cả mọi người đổ ra đầy: reo hò, hát vang bài: "Sòn sòn sòn đô sòn, sòn sòn sòn đô rê... dân Liên Xô, vui hát trên đồng hoa, dân Nam ta tranh đấu cho Hòa Bình"... Mọi người ai cũng gõ trống, chiêng, thậm chí lấy chậu thau, xoang nồi ra để gõ, nét mặt hân hoan vui mừng không sao tổ xiết. Tôi ngước mắt lên hỏi ông:

- Ông ơi! Có gì mà mọi người vui vậy?

Ông cùng vui cười giòn giã và nói:

Giải phóng thị xã rồi! Hòa Bình về rồi đấy cháu ạ! Thế là hai ông cháu vừa đi vừa như chạy về nhà. Ngày đó tôi ở với mẹ và anh Phạm Văn Hải tại số nhà 97 phố Tam Giang, thị xã Hải Dương. Đó là căn nhà của một gia đình di cư vào Nam đang bỏ trống, ở bên trong chiếc giường tre dài suốt cả gian nhà. Một hiện vật còn sót lại của bọn Tàu Tưởng thay mặt đồng minh đến ở tiếp quản, mà dân ta phải làm phục vụ chúng dạo chưa giải phóng thị xã. Ở trong căn nhà trông chỉ có vạt giường tre nên ba mẹ con vẫn sinh hoạt ăn uống bên nhà ông bà ở bên cạnh. Còn anh Hải, anh trai tôi đang học nghề may ở nhà may Tân Đức. Anh học gần hai năm rồi mà vẫn chưa ra nghề vì bị "bệnh tâm thần". Mỗi lần lên cơn, anh cầm đòn gánh, gậy phang bừa bãi rồi hô to: "Hung thần! Hung thần! nó là hung thần đấy!". Mẹ tôi, ông bà hoang mang vô cùng đưa anh đi bệnh viện chữa chạy khoảng nửa tháng thì hết bệnh. Mẹ tôi đi xem thầy, thầy nói nhà đó có ma nên cả nhà, không dám ngủ ở căn nhà đó nữa.


Hòa bình được lập lại, tôi chuyển về học ở trường tiểu học Tô Hiệu, cuối đường Quang Trung, thị xã Hải Dương. Đang học lớp 2 lại bị một trận ốm rất nặng (lúc đó gọi là bệnh thương hàn), mẹ đưa tôi đi chữa ở bệnh viện thị xã, điều trị sáu tháng nhưng không khỏi. Bác sĩ nói:

- Chị ơi! Đằng nào cháu cũng qua khỏi, chị nên đưa cháu về nhà chăm sóc, cho đỡ tốn kém. Cháu sống được ngày nào hay ngày đó. Mẹ khóc và buồn vô cùng, sau đó mẹ cũng quyết định đưa tôi về nhà. Tôi ở trong gian nhà nhỏ khoảng mười sáu mét vuông. Trước đây ông bà dùng làm bếp. Nằm trên một cái giường gỗ nhỏ và tôi ở đó một mình. Một năm trời rồi, một thằng bé bảy tuổi không được ăn cơm, cháo, mà chỉ uống nước cơm, sữa. Bác sĩ nói nếu ăn cơm hoặc đồ cứng sẽ thủng ruột chết luôn. Tôi nằm bất động, người chỉ còn da bọc xương, không được tắm, da xám xịt sần sùi như da cóc. Có một hôm bà Ba Được hàng xóm bên cạnh nhà làm nghề thợ mộc và buôn bán tre nứa, nói với mẹ tôi:

- Lúc nó còn là đứa trẻ khỏe mạnh, ngoan dễ thương, tôi không giúp gì được cho cháu, nay nó sắp đi rồi, tôi tặng cháu bộ quan tài tốt. Mẹ tôi xót xa ứa nước mắt.

Ngày 7 tháng 5 năm 1955 là ngày tổ chức đám cưới của ông chú Phạm Văn Hân, mọi người ra vào tấp nập, vui nhộn, ăn uống tưng bừng lắm. Mà tôi nằm liệt một mình trong phòng tôi, như ở dưới nhà xác. Bà Hoàng Thị Thu (bà nội) vì thương thằng cháu bé nhỏ bị bệnh nặng, đến cạnh giường nét mặt rầu rĩ nói:

- Cháu thèm ăn gì không bà cho? Hay bà cho cháu ăn xôi gà nhé!

Tôi bất động không nói được, mà chỉ gật nhẹ!

Sau đó bà mang cho tôi một cái đùi gà, góc đĩa xôi. Tôi há mồm nhai ngon lành, đang ăn được một nửa thì chú ập vào hét lên:

- Bà định giết nó hay sao? Chị Phòng mà biết thì chết thôi!

Bà nói:

- Đằng nào nó cũng chết, đừng để nó thèm, nó đói! Chú nói vậy thôi, nhưng bà vẫn lờ đi cho tôi ăn, vì biết rằng thằng cháu chẳng còn sống được bao lâu nữa.

Sau ngày đó bà cứ cho tôi ăn, thấy tôi ăn được bà cho ăn đồ mềm và cả cơm nữa. Kỳ lạ thay tôi không chết như lời bác sĩ dặn trước khi ra viện, mà lại khỏe ra. Từ cái bụng đen xì to như cái thúng con, bao ngày không đi đại tiện được, thì giờ đây tôi đi xôi xả, liên tục mấy ngày.


Cái bụng cóc đã xẹp đi. Tôi ăn rất nhiều, lúc nào cùng thèm và đói. Mẹ tôi mừng lắm, lo cho ăn và bồi dường cho tôi. Sức khỏe khá dần, tôi đã nói được, nhưng chưa thể tự ngồi dậy. Mẹ đã mua ba lạng cao hổ cốt cho tôi ăn để mau phục hồi sức khỏe. Tôi được bà giúp tập ngồi, tập đứng, tập đi, đã có da, có thịt hơn trước nhiều. Khi đã ngồi, đứng được tôi tỉ mỉ bóc từng lớp da khô đen xì, lớp da trắng được lộ dần khắp cơ thể. Không ngờ rằng di chứng và hậu quả để lại là tôi đã mắc bệnh da khô, vì lớp mỡ giữ ẩm dưới da bị teo lại, ăn bệnh này nó đã hành hạ, đeo đuổi tôi mãi đến khi vào miền Nam chống Mỹ. Đặc biệt là khi trời lạnh hanh khô của miền Bắc.

Logged

thongdiepthoigian

Thành viên
*
Bài viết: 438


Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân« Trả lời #3 vào lúc: 09 Tháng Năm, 2023, 07:47:48 am »
Ở bếp nhà có treo một bị hành giống để trồng, không hiểu sao tôi thèm hành sống lạ kỳ, thế là lấy trộm ăn hết. Khi mẹ cần hành giống để trồng thì chỉ còn bị hành không treo lủng lẳng.

Bà Ba Được hàng xóm, người đã cho cỗ quan tài nói với mẹ tôi:

- Chị nói thằng Dương đốt cái quan tài ấy đi!

Thế là với sự hỗ trợ của hai lít dầu lửa, tôi đã đốt nó sau nhà ông Đoan. Nhìn ngọn lửa cháy bừng bừng mà đầu tôi chao đi như một cánh diều trên bầu trời mùa thu đầy nắng ấm. Như vậy là sau gần hai năm vật lộn với bệnh tật và thần chết, tôi đã khỏe và học lại lớp 2 của trường tiểu học Tô Hiệu. Còn ông nội vẫn hàng ngày còng lưng với mái đầu bạc trắng cuốc đất trồng rau ở bờ sông con, bên kia đê trước cửa nhà. Mảnh vườn nhỏ khoảng hơn trăm mét vuông đầy sỏi đá đã phủ màu xanh của các loại rau, nguồn sống chính của ông bà lúc đó. Mẹ của tôi thì buôn bán ngược xuôi để nuôi hai con ăn học. Lúc thì buôn cá, buôn rươi, mua vải thiều đi Hà Nội, Hải Phòng bán. Long đong cả cuộc đời, chồng thì mất tích ở miền Nam. Các con thì thay nhau đau ốm. Mẹ kiếm được đồng nào cũng nuôi bệnh viện và bác sĩ hết sạch. Mỗi khi nhớ lại, hình ảnh mẹ đã in đậm trong ký ức của tôi, bà là người phụ nữ rất Việt Nam, rất đúng với câu ca dao quen thuộc của người Việt: "Gánh cực mà vực nên non / Còng lưng mà chạy cực còn theo sau".


Tôi đã ghi nhận mình được cứu sống là nhờ đám cưới của chú Hân, đặc biệt là bà Hoàng Thị Xuyến đã cứu tôi. Bây giờ ảnh của bà được tôi phóng to đưa lên bàn thờ cùng với mẹ tôi ở tại căn nhà: đường Nguyễn Oanh, phường 7, quận Gò vấp, Thành phỏ Hồ Chí Minh. Tôi mãi nhớ ơn bà, người phúc hậu, nhân từ. Con người ta sau thời gian đi xa trở về, bỗng cảm thấy lớn thêm lên và sáng dạ ra là thế! Còn tôi sau lần thoát cửa tử thần đã chai sạn, không bao giờ còn sợ chết và càng yêu cuộc sống này đến lạ lùng.


Sau lần thoát chết, ba mẹ con tôi về ở nhờ ông bà ngoại trong Ngọc Uyên, cách phố Tam Giang gần hai cây số. Dọc đường đi ôi chao! Rợp trời cờ đỏ sao vàng. Cờ to thì treo ở đền chùa trụ sở, cờ nhỏ in bằng giấy phấp phới trên tay tất cả mọi người, trẻ già, trai gái. Khắp hai cánh đồng sau, trước cửa đình làng Ngọc Uyên là rợp bóng cờ đuôi nheo. Mỗi thửa ruộng đều có cắm tấm biển tên chủ đất, bên trên là cờ đỏ bay bay theo chiều gió. Thế là bà con nông dân bần cố đã có trâu cày ruộng cấy rồi! Đội cải cách ruộng đất đã về làng ngày nào cũng họp với nông dân. Cảnh bà con bần cố nông đấu tố, kế khổ cuộc đời với đội cải cách, trước mặt địa chủ đã diễn ra khắp nơi trong làng xã. Theo tôi được biết thời cải cách ruộng đất, đã mang lại nhiều niềm vui cho bà con nông dân, thực hiện công bằng xã hội.


Cải cách ruộng đất xong là đến phong trào hợp tác xã nông nghiệp, vì neo người gia đình tôi xung phong vào hợp tác xã đầu tiên.

Năm 1958 là năm đầu thi hành luật nghĩa vụ quân sự của miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Trước khi anh tôi đi bộ đội, mẹ quyết định lấy vợ cho anh. Anh Hải lúc đó hai mươi mốt tuổi, còn chị tên là Chu Thị Dứa mười chín tuổi, con một ông địa chủ làng Nhân Nghĩa, ở bên kia sông Thái Bình, đối diện làng Ngọc Uyên. Chẳng có mối lái gì! Bởi anh học phổ thông cùng với anh Chu Văn Nha là anh trai của chị dâu tôi.


Mẹ tôi có bàn chuyện cưới xin với ông bà Đoan bên nội, ở 95 Tam Giang, thị xã Hải Dương và xin được đưa cả nhà ra ở cùng với ông bà sau đám cưới. Ông, bà, chú thím Hân đã nhất trí. Vậy là đầu năm 1958, ca nhà tôi đã về ở lại với ông bà nội, đám cưới anh tôi đã diễn ra. Sau một tháng anh Hải lên đường nhập ngũ.


Anh đi bộ đội, gia đình chỉ còn lại ba mẹ con, ăn chung một bếp, ông bà, chú thím Hân ăn riêng. Tôi thì đang học lớp ba trường Tô Hiệu ở thị xã. Có một nghịch cảnh là: nhà tôi ở phố, nhưng lại làm ruộng có trâu bò, thóc lúa, rơm rạ phơi phóng với lại ở chung với chú thím, ông bà nên chật chội, bất tiện đủ thứ, nhiều sự việc đã phát sinh.


Để giải quyết những mâu thuẫn đó, mẹ tôi đã quyết định làm nhà riêng ở mảnh vườn đã được đội cải cách chia trong làng Ngọc Uyên. Dạo đó làm nhà khó khăn lắm, cái gì cũng thiếu, nhưng được họ hàng giúp đỡ, mỗi người một tý nên cũng ổn thỏa. Chú Hân ở ngoài phố giúp nửa mái nhà lợp bằng cọ (mà ông mua cung cấp của Nhà nước). Các cậu dì thì giúp công thợ... Mẹ và chị dâu tôi tất bật lo cơm nước phục vụ.


Đang làm nhà thì anh Hải khoác ba lô giải ngủ về nhà vào mùa hè năm 1961. Cánh đồng đang khô cạn thì gặp phải mưa rào, mừng quá! Vừa có thêm nhân lực, vừa có sổ tiết kiệm mà anh chắt chiu mấy năm về đưa cho mẹ. Cả nhà phấn khởi tăng tốc, vậy là căn nhà lá, gỗ xoan đã hoàn thành. Còn tôi đang tung tăng đi học ở lớp 5 trường Ngô Gia Tự, năm đầu của cấp hai.


Sang năm 1962, chị dâu tôi sinh được cháu gái đầu lòng là Phạm Thị Huyền, cả nhà vui rộn hẳn lên, vì bấy lâu nay nhà toàn người lớn. Những ngày đầu năm 1964, tôi đang học lớp bảy, năm cuối của cấp hai. Không khí chiến tranh đã lan ra cả nước. Mỹ tiến hành bắn phá miền Bắc bằng không quân. Trẻ em đến trường phải đội mũ rơm, nam nữ thanh niên, dân quân đi làm đồng phải mang theo súng đạn. Mọi nẻo đường trường học, nhà ở có hầm trú bom đạn, máy bay nhà nọ sang nhà kia, cả làng kết nối bằng hệ thống giao thông hào. Tiếng loa, kẻng báo động máy bay đến diễn ra hàng ngày.

Logged

thongdiepthoigian

Thành viên
*
Bài viết: 438


Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân« Trả lời #4 vào lúc: 09 Tháng Năm, 2023, 07:49:54 am »
Chương hai
CON ĐƯỜNG GIẢI PHÓNG QUÂN


Lên đường nhập ngũ

Vào lúc này thanh niên nam nữ, lớp lớp lên đường nhập ngũ và đi thanh niên xung phong. Khắp nơi rộn ràng không khí tòng quân chống Mỹ, lên đường giải phóng miền Nam. Tôi đã lớn thấy tưng bừng khí thế như vậy nên "chán học".


Học hết cấp hai tôi và thằng Kỷ (em họ) cùng lớp chạy một mạch ra hồ bơi đầu vườn hoa Con Cóc, đầu phố Tam Giang nhảy thùm xuống nước lặn ngụp sung sướng. Cuộc đời được tự do "thoát khỏi cảnh học trò".


Năm đó tôi mười sáu tuổi, cao 1 mét 67, nặng 50 kilôgam, rất khỏe mạnh nên giúp được nhiều việc cho gia đình. Ngoài đi làm hợp tác xã, dân công đắp đê, tôi về cùng thanh niên rủ nhau kéo và đắp ụ pháo cao xạ giúp bộ đội. Các em thiếu nhi hái lá cây, từng đoàn theo nhau đi ngụy trang trận địa, không khí nhộn nhịp vui như hội.


Vào một buôi sáng sớm tôi giúp mẹ gánh nước tưới rau ở bờ sông Thái Bình. Vừa cúi xuống múc nước thì có tiếng kẻng báo động máy bay Mỹ vang liên hồi ba tiếng một. Hàng đàn quạ sắt lao đến nhào lộn trên bầu trời cầu Phú Lương.


Cầu Phú Lương trên đường 5 bắc qua sông Thái Bình, con đường huyết mạch nối từ Hà Nội - Hải Dương đến cảng Hải Phòng. Vị trí của nó cực kỳ quan trọng trong việc vận chuyển hàng hóa từ cảng vào miền Bắc. Máy bay nhiều quá tôi đếm không xuể. Nó lao lên, bổ nhào xuống, lật qua, lật lại rơi tự do rồi nhào lộn như biểu diễn, mục đích là để phân tán hỏa lực của ta. Chỉ có mấy chiếc lao về phía cầu bỏ bom bắn phá, nhìn những cột nước bùng lên cao vút, cá trôi nổi trắng xóa cả mặt sông. Những con rồng lửa bay vút lên (tên lửa), đạn pháo của ta nổ như sét đánh nhằm vào lũ quạ mà bắn. Mặt đất rung chuyển, trên bâu trời đã có chiếc máy bay nổ tung, cháy đỏ rực. Mới đầu tôi chẳng sợ gì cả, cứ ngửa mặt lên xem. Nhưng đã có mảnh đạn rơi gần mấy mét, tôi sợ nép mình vào hốc đất ven bờ, căng mắt nhìn về phía cầu: Trời ơi! Hai nhịp cầu từ từ võng oằn xuồng chìm ập xuống lòng sông. Tôi nổi gai gà khắp người, bủn rủn tay chân, trong lòng xót xa, tim như thắt lại. Đau xót quá trời ơi! Căm thù sôi sục trong lòng. Lũ quạ biến mất. Tiếng súng pháo lặng im. Tôi lao nhanh về nhà, cả hợp tác xã, dân quân, bộ đội pháo binh dội lên lòng căm thù sôi sục. Tất cả chuẩn bị lao vào trận chiến đấu mới dồn ra bờ sông để ngày mai thêm hai cầu phao nữa thay thế ra đời.


Tháng 6 năm 1965, khi tôi đang cắt lúa ở đầu làng thì đòn sóc của ông bạn tên là Ly (Vũ Đình Liệu) lao đúng giữa bàn chân trái. Máu trào ra, tôi quỵ ngay tại chỗ, mấy em: Vịnh (con cậu Huy), Thi (Hồng) nhai cỏ, cởi xà cạp quần, băng bó rồi khênh tôi về nhà. Anh Hải ngay lập tức mượn xe đạp nhà anh Thập đưa tôi đi bệnh viện cấp cứu. Do nhiễm trùng nên đau đi, đau lại mất gần năm trời mới khỏi. Tính đùa dai hăng máu của thanh niên là thế đấy! Hậu quả khôn lường.


Buổi sáng ngày 20 tháng 4 năm 1966, khi đang cùng thanh niên hợp tác xã đào mương dẫn nước, thì một tin vui ập đến, giấy gọi nhập ngũ đã đến với tôi.

Chờ đợi ngày này bấy lâu nay, bởi vì đã đi khám nghĩa vụ quân sự đạt loại A1 (cả xã chỉ có mình tôi là A1). Tôi lại được kết nạp Đoàn viên thanh niên, không đi bộ đội thì chỉ có trong chuyện lạ của làng.

Nhận được tin nhập ngũ, tôi reo hò bỏ ngay về nhà khoe với mẹ. Những ngày chờ nhập ngũ tôi chập chờn khó ngủ, đêm thức dậy viết mấy dòng thơ:

"Thật vui biết mấy tự hào,
Mang niềm vinh dự bước vào tuổi xuân.
Gọn gàng sách bút xếp ngăn,
Tạm xa phượng đỏ vây quanh mái trường.
Tạm xa tất cả tình thương,
Bước đi không nổi vấn vương trong lòng.
Trái tim yêu đã rực hồng,
Máu yêu ơi! Đã như dòng suối reo.
Nhanh chăn cất bước vượt đèo,
Con đường giải phóng Đảng giao cho mình"
1 (Bài thơ "Con đường giải phóng" viết tháng 4-1966)


Bảy giờ sáng ngày 29 tháng 4 năm 1966, anh Hải mượn xe đạp nhà anh Thập (hàng xóm) chở tôi đến Huyện đội Nam Sách tập trung nhập ngũ. Ở nhà tôi được chuẩn bị hai bộ quần áo, một đôi dép lốp cao su và một mũ cát (giống như mũ cối bây giờ nhưng làm bằng cây dút). Hai anh em đến một sân hợp tác xã rất lớn, thấy thanh niên tập hợp rất đông. Tôi được gọi nhập vào danh sách đơn vị mới, đồng thời nhận cấp phát: mũ cối, chăn, màn, chiếu, ba lô. Tôi ở lại, chia tay anh ra về, hai người nghẹn ngào rơi nước mắt.


Thế là từ hôm nay cuộc đời tôi đã được sang trang mới, luôn xác định quyết tâm phân đấu thật cao, sẵn sàng thích nghi với cuộc sống, công tác của người chiến sĩ trong quân đội.

Toàn bộ danh sách tập trung dưới sự quản lý của Sư đoàn 320B (Sư đoàn huấn luyện bộ đội đi B - vào Nam). Quân số hôm đó khoảng 500 người, tạm thời biên chế: mỗi xã một trung đội, cả huyện một tiểu đoàn.


Ngay trưa hôm đó, sau khi ăn cơm xong, chúng tôi hành quân liên tục, đến đêm thì nghỉ ở huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Hà. Tại đây đơn vị được cấp phát bổ sung thêm quân tư trang đầy đủ. Lính mới chưa bao giờ đi bộ bốn, năm chục cây số, thì đây là lần thử thách đầu tiên. Chân tay rã rời, mệt mỏi, bàn chân phồng rộp, nhưng ai cũng vui vẻ hăng hái. Dừng chân nghỉ hành quân là phân công mỗi người một việc, rất chu đáo đối với dân địa phương.


Hôm sau ăn sáng xong đoàn lại hành quân tiếp tục, nửa đêm thì đến một khu rừng Nho Quan, Ninh Bình, bên cạnh là một bản dân tộc Mường rất lớn. Đêm hôm nay chúng tôi được ngủ ở nhà sàn của đồng bào dân tộc, phải dựa vào dân để làm doanh trại. Khu rừng Nho Quan có các địa danh: Ba Dốc, rừng Lim, có con sông Đáy chảy ngang thị xã Phủ Lý. Dân tộc ở đây cũng đông, chủ yếu là người Mường. Chúng tôi làm lán trại hôm nay là ngày thứ hai, tất cả tài năng, trí tuệ và sự khéo léo của anh bộ đội được phát huy cao độ.


Mỗi người được cấp phát một con dao phát nhọn đầu, một cái xẻng cá nhân, cả tiểu đội được trang bị thêm hai cái búa chim. Mọi việc như chặt cây, đẽo gỗ, cắt cỏ tranh, mổ gà, heo, tất cả đều bằng dao. Suốt hai ngày trời mỗi tiểu đội đã hoàn thành xong một cái lán để ở, một giếng nước và một bếp Hoàng Câm. Ngoài ra ai cũng phải có hố cá nhân (có nắp) để trú bom đạn. Đây cũng là thử thách thứ hai của các chiến sĩ trong những ngày đầu quân ngũ. Đêm đầu tiên các anh bộ đội đã có nhà và cuộc sống độc lập riêng biệt.


Chúng tôi được biên chế chính thức vào đơn vị Đại đội 3, Trung đoàn 4, Sư đoàn 320B. Lán trại của đơn vị quay lưng dựa vào vách núi, trước mặt là rừng cây Ba Gạc thưa, một loại cây cao trên ba mét, lá giống như bàn tay người. Sau này ai cũng bị ghẻ ngứa, lấy lá nấu nước tắm và sát vào da là khỏi.


Hôm nay tuần đầu tiên chúng tôi được học đội ngũ, điều lệnh nội vụ, tiếp theo học các nội quy, quy định, chế độ, đường lối chính sách của Đảng về sự nghiệp giải phóng miền Nam. Nói tóm lại là học chính trị và quân sự. Các tuần tiếp theo học sử dụng, tháo lắp các loại súng bộ binh: súng ngắn, súng CKC AK, trung liên, đại liên, B40, B41, các loại lựu đạn, thủ pháo, mìn, đánh bộc phá. Học kỹ thuật lăn, lê, bò nhoài, đào giao thông hào, làm hầm hố, đánh lô cốt, vượt phá dây thép gai, kỹ thuật đánh trận ban ngày, ban đêm.


Cuối cùng là kiểm tra bắn đạn thật, ném lựu đạn, bộc phá thật. Kết quả bắn đạn thật tôi được 28 điểm, ai đạt 30 điểm thì được thưởng một tuần về phép thăm gia đình.

Thời gian biểu sinh hoạt buổi tôi của đơn vị như sau:

Thứ hai: sinh hoạt Tiểu đội.

Thứ ba: sinh hoạt Trung đội.

Thứ tư: sinh hoạt Đại đội.

Thứ năm: sinh hoạt Đảng, Đoàn.

Thứ sáu: tất cả đi lấy gạo.

Thứ bảy: sinh hoạt văn hóa, văn nghệ.

Chủ nhật: nghỉ tự do trong đơn vị.


Ban ngày sáng, chiều ra bãi đồi tập quân sự từ thứ hai đến thứ bảy. Sáng chủ nhật thường là nghe thời sự, học chính trị hoặc là sinh hoạt tiểu đoàn, buổi chiều đi lấy cui, giúp anh nuôi, củng cố công sự... giờ giấc của đơn vị cũng rất chặt chẽ.


Buổi sáng báo thức 5 giờ hoặc 5 giờ 30 phút tùy theo mùa, vệ sinh cá nhân, 15 phút thể dục, 15 phút ăn sáng, sau đó tập hợp hành quân ra bãi đồi (thao trường) luyện tập quân sự. Việc sinh hoạt được quy định rất nền nếp:

- Cách buộc giày, mắc màn đi ngủ, cách gấp chăn gối, phải xếp vuông vắn thẳng tắp như se chỉ. Súng đạn phải để thống nhất đều tăm tắp. Nói tóm lại mọi vật dụng phải rất gọn gàng, để thống nhất có hàng có lối, thực hiện dễ lấy, dễ thấy, dễ kiểm tra, đồng thời phải mỹ quan, đẹp mắt. Lễ nghi, xưng hô phải đúng quy định, gặp nhau ở ngoài đường cấp dưới chào cấp trên trước, cũng phải học cả cách chào.


Tất cả cán bộ, chiến sĩ phải thuộc lòng ít nhất năm bài hát: Quốc ca; Quốc tế ca, lãnh tụ ca; Kết đoàn; Vì nhân dân quên mình.

Đặc biệt là phải thuộc mười lời thề danh dự của Quân đội nhân dân Việt Nam. Quân đội muốn đánh thắng kẻ thù phải kỷ luật như thế đó! "Kỷ luật là sức mạnh của quân đội", tính thống nhất phải rất cao, muôn người như một.

Logged

thongdiepthoigian

Thành viên
*
Bài viết: 438


Dấu chân chiến sĩ giải phóng quân« Trả lời #5 vào lúc: 09 Tháng Năm, 2023, 07:51:21 am »
Sau năm tháng liên tục ngày đêm học tập chính trị, quân sự, lăn lộn vất vả trên thao trường, huấn luyện đã hoàn tất chương trình. Đơn vị đứng trước nhiệm vụ mới: rèn luyện thể lực, bồi dưỡng sức khỏe để vào chiến trường miền Nam. Chúng tôi có một tháng cán bộ, chiến sĩ ăn bồi dưỡng, chế độ được tăng lên gần gấp đôi. Mọi người được ăn no, ăn ngon, ăn xong có trái cây tráng miệng. Ngày nào tiểu đoàn cũng giết bò, mổ lợn, quản lý dùng cả xe ô tô để đi chợ. Rèn luyện sức khỏe là: đan sọt tre để đeo đá (đeo ba lô sợ rách), ngày nào cũng tập đeo đá, hành quân, leo đèo, lội suối tám đến mười giờ mỗi ngày. Đợt cuối cùng thử thách: mỗi người đeo 30kg kèm súng đạn hành quân một tuần liền đi qua năm tỉnh: Ninh Bình, Hòa Bình, Nam Hà, Thanh Hóa, Thái Bình. Ai vượt qua chặng đường này, không ốm đau, nghỉ lại là đủ tiêu chuẩn vào Nam. Tất cả anh em, đồng đội giúp đỡ lẫn nhau, đặc biệt là quyết tâm rất cao, vì vậy 100% đạt tiêu chuẩn lên đường nhận nhiệm vụ.


Trước khi vào Nam chúng tôi được cấp trên cho về phép thăm gia đình một tuần.

Ngày 5 tháng 10 năm 1966, toàn tiểu đoàn hành quân về phép, tất cả đều quê ở Hải Dương (gọi là tiểu đoàn Hải Dương). Chúng tôi đi bộ từ Ba Dốc, Nho Quan, Ninh Bình một mạch đến Phủ Lý.

Được về thăm gia đình nên tinh thần ai cũng phấn khởi, hăng hái, đi như chạy, tốc độ 13km một giờ, vượt qua chặng đường 50km.

Khi đến Phủ Lý, một cảnh tượng nhà cửa bị san phẳng ngổn ngang, bao la là đổ vỡ vì bom Mỹ. Cầu Phủ Lý bị bom Mỹ đánh sập, mọi người qua sông bằng cầu phao của công binh. Đến ga Phủ Lý đã có sẵn đoàn tàu hỏa chờ đón chúng tôi, cả đơn vị lên tàu nhanh chóng, lúc này là 9 giờ tối.


Đoàn tàu lăn bánh xình xịch... chạy băng qua ga Hà Nội về thẳng Hải Dương. Sư đoàn 320B đã giao quân về phép cho Huyện đội Nam Sách. Huyện đội có trách nhiệm quản lý quân số và giao trả Sư đoàn đầy đủ theo hợp đồng đã ký kết.


Nhà cách ga Hải Dương khoảng hai cây số, nên tôi khoác ba lô đi bộ băng qua thị xã.

Tháng 8, tết Trung thu, trăng tròn vành vạnh sáng tỏa khắp quê hương. Thị xã vắng không bóng người vì dân đi sơ tán, chỉ còn một số tự vệ ở lại quản lý và trực bắn máy bay. Không gian êm đềm tĩnh mịch, bóng tôi đi nhanh, cứ dài ra rồi tròn lại rồi dài ra dưới ánh đèn điện trên phố. Mới xa quê hương có mấy tháng mà cảm thấy như đã từ lâu rồi. Tôi thật sự thấy trong lòng lâng lâng cảm xúc khi trên đường trở về.


Khoảng hơn 1 giờ đêm tôi có mặt ở nhà. Một giấc ngủ ngon lành mà mẹ đã ban cho tôi sau sáu tháng đi xa, rèn luyện trong quân ngũ. Giấc ngủ ở nhà trong gia đình đầm ấm yêu thương, sao mà nó sâu và đẹp đến thế. Tôi mơ về miền Nam bao la đồng lúa, hát ngát rừng dừa trong buổi sáng bình minh gió lộng.


Sáng hôm sau tin bộ đội về phép lan ra rất nhanh. Tôi thức dậy, bà con, cô dì, anh em, bạn bè đã đến chơi chật nhà. Suốt mấy ngày đi thăm bà con lối xóm và các bạn thanh niên.

Dạo đó, hợp tác xã (thôn, làng) là một pháo đài, có đại đội dân quân đầy đủ súng đạn, và trung liên để bắn máy bay tầm thấp. Ngoài đồng ruộng từ cửa đình đến cầu Phú Lương, pháo cao xạ 37, 57 ly giương cao nòng quân lá ngụy trang khắp nơi sẵn sàng nhả đạn. Giao thông hào được đào nối từ nhà này sang nhà khác, chạy chằng chịt khắp làng. Nhà nào cũng có hầm trú ẩn chữ A nửa nổi, nửa chìm.


Khí thế thanh niên nam nữ sôi sục lao động sản xuất, phục vụ bộ đội.

Hậu phương lớn của miền Nam là như vậy đó!

Anh em chúng tôi về phép mà lòng cứ nao nao, sốt ruột, muốn nhanh chóng được vào miền Nam ngay để tham gia chiến đấu.

Chi đoàn thanh niên tổ chức liên hoan nhẹ, chia tay sáu anh em chúng tôi. Trên bàn chủ tọa có anh: Phạm Văn Hải (anh trai tôi), Bí thư xã đoàn, anh Vỳ, anh Vĩnh Bí thư và Phó bí thư chi đoàn cùng rất đông nam nữ đoàn viên có mặt ở chùa Ngọc Uyên.


Thay mặt sáu anh em, tôi lên phát biểu ý kiến chia tay chi đoàn để ngày mai lên đường. Một cảm giác tự hào trào dâng, cùng với niềm vui sướng hân hoan, phấn khởi, rạo rực trong lòng.

Buổi chiều cuối cùng trước khi vô Nam, tôi bách bộ một mình trên mặt đê quanh làng. Đến góc cua cuối cùng tôi dừng lại ngắm ngã ba sông Thái Bình và dòng sông Con (Kẻ Sặt). Hai dòng sông ôm ấp vây quanh tạo thành bán đảo Ngọc Uyên, phía bắc là giáp đường 5, góc phía đông là cầu Phú Lương đã bị trọng thương vì bom Mỹ. Mặt ngã ba sông mênh mông cuộn chảy, những dòng phù sa nâu sẫm đang về.


Mặt trời hoàng hôn đỏ rực từ từ khuất dần, trời không một gợn mây, trong xanh tĩnh lặng... Quay về phía xóm làng: Cánh đồng lúa xanh non mơn mởn bao la, đàn chim đang rập rờn vỗ cánh bay về nơi trú ẩn. Những cây cau cao vút xen lẫn những rặng tre quanh làng, vươn lên dưới những làn khói tỏa chuẩn bị cho bữa cơm chiều tối. Bất giác tôi nhớ đến tiếng kẻng ngân vang giục giã hàng đoàn người dắt trâu bò, vác cày bừa, cuốc ra đồng làm việc trong nắng sớm ban mai của hợp tác xã. Rồi nhớ đến tiếng trống rộn ràng trong những ngày khởi công đắp đường đào mương, cờ bay phấp phới với hàng trăm bạn thanh niên lao động tâp nập rộn rã tiếng cười.


Ngọc là viên ngọc quý, uyên là thâm, thâm là sâu. Viên ngọc nằm ở dưới sâu lòng đất. Đó là Ngọc Uyên. Không biết có tự bao giờ cái tên Ngọc Uyên ấy! Chắc là có từ khi hai ông: Lê Viết Hưng, Lê Viết Quang, hai tướng lĩnh nhà Đinh có công dẹp loạn 12 sứ quân rồi về đây lập nghiệp xây dựng làng. Nên dân làng đã xây dựng Đình Ngọc Uyên để tưởng nhớ hai người. Tượng hai ông, hồn hai ông vẫn còn đó trong đình.


Viên ngọc nay đã nổi lên trên mặt đất bao la đẹp thế kia - Viên ngọc tan biến thành đình, chùa, miếu, quán, thôn xóm dân làng, lũy tre, đường sá và những cánh đồng phù sa màu mỡ.

Trong lòng tôi nặng trĩu, thẫn thờ, lưu luyến trước cảnh quê hương, xóm làng êm đềm xanh tươi.

Mặt trời đã lặn, hoàng hôn tan biến, nhường cho màn đêm tĩnh mịch, để chuẩn bị cho một bình minh rạng rỡ. Nước mắt tôi tuôn rơi khi cúi chào quê hương làng xóm yêu dấu để ngày mai cất bước lên đường.


Buổi sáng ngày 10 tháng 10 năm 1966 trả phép, trở về đơn vị. Tiễn sáu người chúng tôi (Dương, Trác, Đức, Quảng, Phao, Hào) hôm đó có rất đông người có mặt tại ga Cẩm Giàng. Nhưng tôi nhớ rất rõ hai người: anh Phạm Văn Hải và Phạm Thị Bảo (chị thằng Đức - cũng họ hàng với tôi).


Đoàn người đã khoác ba lô lên tàu, tay vẫy tay. Nước mắt của anh Hải và cô Bảo giàn giụa trong giọng nói nghẹn ngào, làm cho tôi như muốn vỡ tim.

Tàu chuyển bánh, tiếng còi hú vang. Đoàn người đưa tiễn xa dần rồi mất hút. Nước mắt chúng tôi lăn trên má. Tạm biệt quê hương đối với tôi, nhưng với rất nhiều người khác là một ngày vĩnh biệt, không bao giờ trở về.


Đây là lần cuối cùng gặp mặt và cũng là ngày cuối cùng vĩnh viễn xa anh Hải... Thật đau buồn... Nỗi đau này mãi mãi không nguôi.

Gần nửa đêm chúng tôi về tới doanh trại của đơn vị, được vài ngày nghỉ ngơi chuẩn bị tinh thần.

Núi rừng Nho Quan như im lìm, bình lặng, một mùa thu mát mẻ. Nhưng cả nước, nhất là miền Nam đang dội vang khí thế tiến công Mỹ - ngụy.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn