Dấu chân người chỉ huy: Võ Thiết và những năm tháng lửa đạn
Bài viết tái hiện chặng đường chiến đấu kiên cường và tài chỉ huy xuất sắc của Anh hùng Võ Thiết – người đã góp phần quan trọng vào nhiều chiến thắng lớn trong kháng chiến chống Pháp.
Anh hùng Võ Thiết sinh năm 1920, là người dân tộc Kinh, quê tại xã Hải Dương, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Đồng chí nhập ngũ vào tháng 12 năm 1945. Khi được phong tặng danh hiệu Anh hùng, đồng chí giữ cương vị Tiểu đoàn phó thuộc Đại đoàn 305, đồng thời là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trong suốt giai đoạn từ năm 1946 đến năm 1954, Võ Thiết cùng đơn vị tham gia chiến đấu trên nhiều chiến trường khác nhau như Quảng Trị, miền Tây và Liên khu 5. Dù ở bất kỳ nơi đâu, đồng chí cũng thể hiện tinh thần chiến đấu bền bỉ, dũng cảm, mưu trí và luôn giữ vững sự bình tĩnh trước mọi khó khăn, thử thách. Không chỉ giỏi chiến đấu, đồng chí còn xuất sắc trong công tác xây dựng cơ sở vũ trang tại các vùng địch tạm chiếm, tạo dựng được niềm tin vững chắc trong nhân dân và đồng đội. Trong quá trình chiến đấu, đồng chí đã trực tiếp tham gia và chỉ huy 44 trận đánh, cùng đơn vị tiêu diệt và bắt hơn 1.000 tên địch, đồng thời xây dựng được 20 tổ dân quân du kích, góp phần quan trọng vào việc củng cố lực lượng vũ trang tại nhiều địa phương.
Ngay từ tháng 1 năm 1946, trong trận tập kích đồn M ở miền Tây, đồng chí đã thể hiện sự táo bạo và linh hoạt trong chiến thuật. Đồng chí chỉ huy một tổ cải trang thành người buôn bán, bất ngờ tiếp cận, tiêu diệt lính gác, rồi nhanh chóng xung phong đánh chiếm đồn, tiêu diệt một lính Pháp, khiến lực lượng nguỵ hoảng loạn tháo chạy. Sau trận đánh, đơn vị thu được 25 khẩu súng cùng nhiều trang bị khác. Khi rút quân, gặp phải phục kích của địch, đồng chí đã bình tĩnh chỉ huy phản công, tiêu diệt một số tên, buộc phần còn lại phải rút lui, đảm bảo đơn vị rút về an toàn.
Đến tháng 3 năm 1948, Võ Thiết tiếp tục chỉ huy tiểu đoàn tổ chức bao vây, bám sát và quấy rối đồn Phường Lan tại Quảng Trị. Trước sức ép liên tục, địch buộc phải rút khỏi đồn, tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị ta đón lõng và tiêu diệt gọn một trung đội.
Tháng 3 năm 1953, đồng chí được giao nhiệm vụ chỉ huy một trung đội hoạt động phân tán, tập trung xây dựng cơ sở du kích và vận động nhân dân chống địch tại Quảng Nam. Sau một thời gian kiên trì hoạt động, đồng chí cùng đơn vị đã xây dựng được 20 tổ du kích, tổ chức lực lượng chống càn hiệu quả, tiêu diệt 13 tên địch, bảo vệ an toàn cho nhân dân, tạo niềm tin và khí thế phấn khởi trong quần chúng.
Trong trận Măng Đen vào tháng 1 năm 1954, với cương vị đại đội phó phụ trách hỏa lực, Võ Thiết đã chỉ huy đơn vị phá hủy 12 ụ súng, yểm trợ cho lực lượng xung phong bắt sống 24 tên địch. Khi hướng tiến công vào đồn chính gặp khó khăn, đồng chí chủ động xin phối hợp, trực tiếp chỉ huy đánh bộc phá mở cửa. Bản thân đồng chí dùng trung liên khống chế hỏa điểm, rồi dẫn đầu mũi xung kích, tiêu diệt hoàn toàn vị trí địch.
Tiếp đó, trong trận tập kích thị xã Plây Cu tháng 2 năm 1954, dưới sự chỉ huy trực tiếp của đồng chí, đơn vị chia thành ba mũi tiến công, thực hiện cuộc đánh chớp nhoáng, tiêu diệt hai đại đội địch, đốt cháy sáu kho, bốn nhà lính và phá hủy một xe tăng.
Đặc biệt, trong trận tiêu diệt binh đoàn cơ động số 100 của địch trên đường 19 ngày 24 tháng 6 năm 1954, Võ Thiết đã thể hiện tài năng chỉ huy xuất sắc. Đồng chí chỉ huy đại đội tiến công chia cắt đội hình phía sau của địch, tiêu diệt 14 xe chở quân. Khi địch quay lại phản kích, đồng chí nhanh chóng tổ chức lực lượng chiếm lĩnh điểm cao, đánh lui ba đợt phản công của hai tiểu đoàn địch, giữ vững trận địa, tạo điều kiện cho toàn trung đoàn cơ động lực lượng. Kết quả, ta đã tiêu diệt hoàn toàn binh đoàn cơ động gồm 5 tiểu đoàn, bắt sống 800 tên, thu 279 xe quân sự và phá hủy 12 khẩu pháo.
Qua mỗi trận đánh, đồng chí luôn rút ra bài học kinh nghiệm, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và chỉ huy. Đồng chí còn là tấm gương sáng về tinh thần học tập, lối sống khiêm tốn, đoàn kết, được đồng chí, đồng đội hết lòng tin yêu.
Với những thành tích xuất sắc, Võ Thiết đã được trao tặng Huân chương Quân công hạng Ba và được các cấp quân khu, trung đoàn, tiểu đoàn khen thưởng 7 lần. Ngày 7 tháng 5 năm 1956, đồng chí vinh dự được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.


