Dấu chân người đi trước: Ký ức về Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh
Giữ vai trò Tổng Bí thư trong giai đoạn bản lề của lịch sử hiện đại Việt Nam, Nguyễn Văn Linh được xem là một trong “những kiến trúc sư” quan trọng của công cuộc đổi mới. Từ những chủ trương mạnh dạn nhằm tháo gỡ cơ chế quản lý cũ đến tinh thần “nói và làm” quyết liệt, ông đã góp phần tạo nên bước chuyển mình quan trọng đưa đất nước vượt qua thời kỳ khó khăn về kinh tế – xã hội cuối thập niên 1980. Hình ảnh một nhà lãnh đạo thẳng thắn, gần dân và kiên trì theo đuổi đổi mới tiếp tục để lại dấu ấn
Thanh niên yêu nước với lí tưởng Cách Mạng
Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh tên thật là Nguyễn Văn Cúc (Mười Cúc), sinh ngày 01/7/1915 tại xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ (Hưng Yên). Xuất thân trong một gia đình yêu nước, ông đã sớm giác ngộ cách mạng, tham gia hoạt động trong phong trào học sinh từ năm 14 tuổi. Với sự nhiệt tình của tuổi trẻ, được tư tưởng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc dẫn đường, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã tích cực, hăng hái hoạt động cách mạng trong học sinh, công nhân , tiêu biểu là phong trào học sinh yêu nước do Chi hội Việt Nam Cách mạng thanh niên Hải Phòng lãnh đạo (1930) . Trong khoảng thời gian này , đồng chí Nguyễn Văn Linh bị địch bắt khi đang rải truyền đơn yêu nước , ông bị kết án chung thân và đày ra Côn Đảo .
Năm 1936, Đồng chí được trả tự do, trở về đất liền, bắt liên lạc với tổ chức Đảng, được kết nạp vào Đảng và được Đảng phân công tham gia phong trào công nhân ở Hải Phòng, Hà Nội; vượt qua mọi gian khó, thử thách, nguy hiểm đồng chí Nguyễn Văn Linh đã truyền vào phong trào công nhân Hải Phòng một luồng sinh khí mới, xây dựng nhiều cơ sở, nhiều chi bộ và Thành ủy lâm thời Hải Phòng được thành lập. Phong trào cách mạng ở Hải Phòng được khôi phục.
Người chiến sĩ cộng sản kiên cường vì độc lập, thống nhất của Tổ quốc, tự do, hạnh phúc của Nhân dân
Trong năm 1939, đồng chí Nguyễn Văn Linh được Đảng điều động vào Nam, giữ chức Phó Bí thư Thành ủy Sài Gòn – Chợ Lớn, trực tiếp lãnh đạo đấu tranh chống Đảng Lập hiến và bọn tờ-rốtkít. Thời gian hoạt động ở miền Nam giúp đồng chí hiểu sâu sắc phong trào cách mạng Sài Gòn – Gia Định.
Khi Xứ ủy Trung Kỳ bị phá vỡ, đồng chí được cử ra miền Trung khôi phục tổ chức. Trong quá trình hoạt động ở Vinh, đồng chí bị thực dân Pháp bắt, kết án 5 năm tù và bị đày ra Côn Đảo lần thứ hai. Hơn 10 năm ở “địa ngục trần gian” Côn Đảo, dù bị tra tấn dã man, đồng chí vẫn kiên cường giữ vững khí tiết, cùng các đồng chí biến nhà tù thành “trường học Cách mạng”.
Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, Côn Đảo được giải phóng, đồng chí trở về Nam Bộ hoạt động, tham gia Xứ ủy Nam Bộ. Đồng chí là một trong những người đề xuất hợp nhất Bộ Việt Minh Sài Gòn và Ủy ban Việt Minh Chợ Lớn, lập Thành ủy lâm thời Sài Gòn – Gia Định, lãnh đạo phong trào đấu tranh, góp phần làm tan rã Chính phủ “Nam Kỳ tự trị” của thực dân Pháp.
Từ năm 1947, đồng chí Nguyễn Văn Linh giữ nhiều trọng trách quan trọng trong phong trào cách mạng miền Nam. Trên cương vị Bí thư Thành ủy Sài Gòn – Chợ Lớn, rồi công tác ở Xứ ủy Nam Bộ, đồng chí chú trọng củng cố tổ chức Đảng, xây dựng lực lượng vũ trang và các đoàn thể quần chúng, tạo nên phong trào đấu tranh chính trị – vũ trang sôi nổi chống thực dân Pháp, bù nhìn Bảo Đại và sự can thiệp của Mỹ. Năm 1950, đồng chí được phân công làm Bí thư Đặc khu ủy Sài Gòn – Chợ Lớn, tập trung xây dựng lực lượng, mở các lớp huấn luyện và khôi phục phong trào cách mạng, góp phần vào thắng lợi Điện Biên Phủ (1954).
Trong kháng chiến chống Mỹ, đồng chí tiếp tục giữ nhiều vị trí lãnh đạo chủ chốt: Bí thư Khu ủy Sài Gòn – Chợ Lớn, Bí thư Xứ ủy, Bí thư Trung ương Cục miền Nam. Đồng chí lãnh đạo phong trào đấu tranh chính trị – vũ trang ở đô thị và nông thôn, trực tiếp chỉ đạo các phong trào lớn như Đồng khởi 1960, Chiến thắng Tua Hai, và đặc biệt tham gia chỉ đạo Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Năm 1972, trên cương vị Bí thư Thành ủy Sài Gòn – Gia Định, đồng chí tiếp tục xây dựng lực lượng, chuẩn bị cho Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975.
Sau 1975, đặc biệt từ năm 1981 khi trở lại làm Bí thư Thành ủy TP. Hồ Chí Minh, đồng chí thúc đẩy các cơ chế đổi mới, khuyến khích tự chủ sản xuất, “xé rào”, mở đường cho tư duy kinh tế mới, góp phần quan trọng vào quá trình hình thành đường lối đổi mới của Đảng.
Nhà lãnh đạo kiên định và sáng tạo của cách mạng Việt Nam
Tại Đại hội VI (1986), Đảng quyết định đường lối Đổi mới, mở ra giai đoạn phát triển mới của đất nước; đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư. Trên cương vị này, đồng chí cùng Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương lãnh đạo đất nước vượt qua nhiều khó khăn, kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, tập trung đổi mới kinh tế, từng bước đổi mới bộ máy và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và giữ vững nguyên tắc không đa nguyên, đa đảng.Các bài viết “Những việc cần làm ngay” ký bút danh N.V.L đã tạo luồng sinh khí mới trong xã hội, thúc đẩy tinh thần thẳng thắn, dân chủ, phê phán quan liêu và góp phần làm trong sạch bộ máy. Đồng chí cũng nhấn mạnh đổi mới tư duy, sáng tạo và hành động theo quy luật khách quan của thực tiễn.
Trong nhiệm kỳ của mình, đồng chí chỉ đạo ban hành hàng loạt chính sách quan trọng thúc đẩy đổi mới:
Quyết định 217-HĐBT (1987) giao quyền tự chủ cho doanh nghiệp nhà nước;
Luật Đầu tư nước ngoài (1987) mở cửa thu hút vốn quốc tế;
Nghị quyết 10 (1988) về đổi mới quản lý nông nghiệp, trao quyền sử dụng đất cho nông dân, đem lại vụ mùa lớn 1988;
Cải cách tiền lương, bỏ tem phiếu, từng bước chuyển sang kinh tế hàng hóa theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Đồng chí Nguyễn Văn Linh cũng chỉ đạo các nguyên tắc đổi mới quan trọng như kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa, phát huy dân chủ, gắn dân chủ với kỷ luật và pháp luật, và thúc đẩy đổi mới tư duy đối ngoại (Nghị quyết 13-NQ/TW, 1988) nhằm tạo môi trường hòa bình để phát triển.
Là Trưởng ban soạn thảo Cương lĩnh trình Đại hội VII, đồng chí đóng vai trò quyết định trong việc hình thành Cương lĩnh 1991, sửa đổi Hiến pháp 1980 thành Hiến pháp 1992, khẳng định chủ nghĩa Mác–Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng.
Sau khi rời cương vị Tổng Bí thư, đồng chí tiếp tục đóng góp trên cương vị Cố vấn BCH Trung ương khóa VII, đặc biệt trong việc xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, công nghiệp hóa – hiện đại hóa, tăng cường đối ngoại, chăm lo đời sống Nhân dân, xây dựng Nhà nước pháp quyền và chỉnh đốn Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người chiến sĩ cộng sản “tận trung với nước, tận hiếu với dân”
Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, đồng chí Nguyễn Văn Linh luôn thấm nhuần tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh. Dù ở bất kỳ cương vị nào, đồng chí đều tận tâm cống hiến cho Đảng và Nhân dân, đặt lợi ích của dân tộc lên trên lợi ích cá nhân. Mười năm bị giam cầm ở Côn Đảo cùng ba thập kỷ chiến đấu trong hai cuộc kháng chiến đã rèn luyện bản lĩnh kiên cường, đức tính liêm khiết, giản dị và tinh thần “tận trung với nước, tận hiếu với dân”.
Đồng chí luôn gắn bó với thực tiễn, coi trọng tổng kết kinh nghiệm để xây dựng chủ trương đúng đắn. Trong vai trò Tổng Bí thư khóa VI, đồng chí cùng Bộ Chính trị và Trung ương Đảng lãnh đạo công cuộc Đổi mới một cách chủ động, sáng tạo, khôn khéo, đưa đất nước vượt qua khó khăn và đạt nhiều thành tựu quan trọng.
Với 83 tuổi đời và gần 70 năm hoạt động cách mạng, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã có những cống hiến to lớn cho Đảng và dân tộc. Suốt cuộc đời hoạt động, đồng chí luôn bám sát cơ sở, lăn lộn với phong trào quần chúng, không ngại gian khổ, hy sinh; đồng thời tích cực học tập lý luận, tổng kết thực tiễn, tìm ra nhiều chủ trương và giải pháp sáng tạo cho sự phát triển của cách mạng.
Trên cương vị Tổng Bí thư khóa VI, đồng chí đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, cùng Ban Chấp hành Trung ương lãnh đạo công cuộc Đổi mới một cách chủ động, kiên định và sáng tạo. Dưới sự dẫn dắt của đồng chí, đất nước đạt được nhiều thành tựu quan trọng: phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng – an ninh, nâng cao đời sống nhân dân, mở rộng quan hệ đối ngoại và nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.



