DẤU CHÂN NGƯỜI LÍNH
Trong những năm tháng khói lửa chiến tranh, khi từng tấc đất nơi chiến trường đều thấm đẫm mồ hôi và máu, đã có những con người lặng lẽ cống hiến. Họ không cần được nhắc tên, không cần vinh quang, chỉ âm thầm chiến đấu và hy sinh để đổi lấy hòa bình cho Tổ quốc hôm nay.
Một trong những con người ấy là ông Tô Trần Đệ, người con thôn Đông Vĩnh, quê hương Mai Phụ, Hà Tĩnh. Ông sinh ngày 20 tháng 2 năm 1944, lớn lên giữa vùng quê biển đầy nắng gió. Tuổi thơ ông gắn với tiếng sóng vỗ bờ, với những buổi theo mẹ ra đồng, theo cha ra biển.

Nhưng đất nước lúc bấy giờ đang chìm trong khói lửa chiến tranh. Năm 1965, ông xếp lại những ước mơ tuổi trẻ, viết đơn tình nguyện lên đường nhập ngũ. Ngày tiễn con ra trận, mẹ ông chỉ dặn một câu giản dị: “Ngày đất nước yên bình, con hãy trở về, lại nghe tiếng sóng quê mình.”
Mang theo lời dặn ấy, ông bước vào chiến trường Trị Thiên Huế, một trong những chiến trường ác liệt nhất lúc bấy giờ. Những ngày hành quân xuyên rừng, đói cơm, khát nước; những trận bom rải thảm khiến đất đỏ nhão nhoẹt dưới chân, cây rừng cháy đen, không gian đặc quánh mùi khói súng… tất cả đã trở thành thử thách khắc nghiệt với người lính trẻ.
Sau thời gian huấn luyện, ông được biên chế vào Trung đoàn 6, đoàn chủ lực Quân khu Trị Thiên Huế. Từ tháng 6 năm 1965 đến tháng 12 năm 1969, ông chiến đấu từ tỉnh Quảng Trị đến tỉnh Thừa Thiên Huế, trải qua nhiều trận đánh cam go, khốc liệt: La Vang, Lao Bảo, Làng Vây, Khe Sanh, Hải Lăng, A Lưới. Trong suốt những năm tháng ấy, ông đã đảm nhiệm nhiều cương vị từ tiểu đội đến đại đội.
Đặc biệt là chiến dịch Mậu Thân năm 1968, đánh chiếm thành phố Huế. Giữa làn bom đạn ác liệt, ông vẫn kiên cường bám trụ, ba lần bị thương, nhưng ông chưa từng rời trận địa: Lần 1 ở trận Sịa (Hương Điền), lần 2 ở thành phố Huế, lần 3 ở Khe Sanh. Mảnh đạn còn nằm sau lưng ông vẫn đau âm ỉ khi trái gió, trở trời.
Sau thời gian điều trị, do sức khỏe suy giảm, ông được chuyển về tuyến sau. Trong nhiều năm chiến đấu nơi liên tục nơi chiến trường đã hun đúc trong ông bản lĩnh kiên cường và tinh thần không khuất phục.
Với những đóng góp ấy, ông đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến, Huân chương Chiến công và nhiều danh hiệu cao quý, trong đó có hai lần danh hiệu “Dũng sĩ quyết thắng”.


Nhiều năm sau, khi đất nước đã hòa bình, người lính năm xưa trở về với nhiều mảnh đạn còn nằm trong cơ thể, Ông được công nhận là thương binh hạng 1/4 với thương tật 81%. Mái tóc đã bạc, bước chân không còn nhanh như trước, nhưng ký ức về một thời hoa lửa nơi chiến trường Trị Thiên Huế vẫn còn nguyên vẹn. Ông ít khi kể về những hiểm nguy mình đã trải qua.
Năm 1976, khi đất nước thống nhất, ông trở về quê hương với quân hàm Trung úy. Những tưởng cuộc sống sẽ bình yên, nhưng những khó khăn của thời hậu chiến lại tiếp tục thử thách người lính năm xưa.
Sức khỏe yếu, vết thương tái phát mỗi khi trái gió trở trời. Nhưng với ý chí của một người lính, ông không gục ngã. Ông tích cực tham gia các hoạt động ở địa phương, luôn gương mẫu, trách nhiệm và tận tụy với công việc.
Năm 1978, ông được bầu làm Phó Chủ nhiệm hợp tác xã. Từ năm 1981 đến khi nghỉ chế độ, ông liên tục được tín nhiệm bầu vào Đảng ủy, Hội đồng nhân dân và giữ chức Chủ tịch xã trong nhiều năm, sau đó là Bí thư Đảng ủy xã.
Ở cương vị nào, ông cũng luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ, góp phần xây dựng quê hương ngày càng phát triển. Gần 24 năm là cán bộ chủ chốt của xã, ông đã dành trọn tâm huyết và trí tuệ cho sự đổi thay của quê hương.
Dù tuổi cao, sức khỏe hạn chế, ông vẫn luôn đi đầu trong mọi phong trào, tiếp tục cống hiến cho quê hương. Ông thực sự là hình ảnh tiêu biểu cho lời khẳng định: “Sáng mãi phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ”, không chỉ trên chiến trường năm xưa, mà cả trong cuộc sống hôm nay.

Có những dấu chân đã in xuống chiến trường năm ấy để hôm nay, nở thành những mùa bình yên trên quê hương. Và trong trái tim chúng em, dấu chân ấy sẽ còn mãi không phai. Hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng tuổi xuân của họ. Chúng em vô cùng biết ơn và nguyện bước tiếp con đường mà thế hệ cha anh đã chọn.



