DẤU CHÂN QUA HAI CHIẾN TRƯỜNG VÀ NGHĨA VỤ QUỐC TẾ
Cựu chiến binh, Thiếu úy Ma Công Chảu (sinh năm 1954) là người lính kiên cường từng xông pha qua hai chiến trường lớn. Nhập ngũ năm 1973, ông trực tiếp tham gia chiến đấu chống Mỹ tại mặt trận Tây Nguyên (B3), góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Cuối năm 1978, ông tiếp tục lên đường làm nghĩa vụ quốc tế cao cả tại Campuchia trong đội hình Sư đoàn 315 và Đoàn 5503, giữ chức vụ Phó Đại đội trưởng về Chính trị, góp phần giúp nhân dân bạn thoát khỏi thảm họa diệt chủng trước khi phục viên trở về quê hương năm 1982.

Tuổi trẻ rèn đúc trên đất Hà Bắc
Sinh năm 1954 tại vùng quê giàu truyền thống, người thanh niên Ma Công Chảu lớn lên trong những năm tháng khí thế kháng chiến chống Mỹ cứu nước sôi động khắp hai miền. Tháng 8 năm 1973, khi vừa tròn 19 tuổi — độ tuổi đầy nhiệt huyết và khát vọng cống hiến, anh nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc lên đường nhập ngũ.
Anh được biên chế vào Đại đội 4, Tiểu đoàn 895, Sư đoàn 304B (C4 D895 F304B) và tham gia khóa huấn luyện chiến sĩ mới tại vùng đất Hà Bắc (địa bàn huyện Bạch Thông thời bấy giờ, nay thuộc tỉnh Bắc Kạn). Những ngày tháng trên thao trường Hà Bắc với nắng gió và kỷ luật thép đã rèn đúc cho người lính trẻ một bản lĩnh kiên cường, sức bền dẻo dai cùng ý chí chiến đấu sắt đá.
Vào lửa Tây Nguyên
Tháng 1 năm 1974, sau khi hoàn thành xuất sắc khóa huấn luyện, anh Ma Công Chảu nhận lệnh hành quân vượt Trường Sơn tiến vào miền Nam. Đơn vị đầu tiên anh dừng chân là Binh trạm 1 tại khu vực Ngã ba Đông Dương thuộc tỉnh Gia Lai — tuyến đầu vô cùng quan trọng và ác liệt của con đường chi viện chiến lược.
Ngay sau đó, Bộ Tư lệnh Mặt trận V3 điều động anh vào Đại đội 11, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 25 (C11 D3 E25) trực thuộc Bộ Tư lệnh B3 (Mặt trận Tây Nguyên), đóng quân tại khu vực Buôn Sa Vòm, tỉnh Đắk Lắk (ngày nay thuộc địa bàn quản lý của Quân khu 5). Tại vùng đất đại ngàn gian khổ này, anh cùng đồng đội đã kiên cường bám trụ, tham gia nhiều trận đánh nảy lửa, góp phần giữ vững vùng giải phóng và tạo thế tiến công chiến lược cho đại thắng mùa Xuân năm 1975.
Sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất, anh tiếp tục ở lại giữ vững thành quả cách mạng, công tác và đóng quân tại Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đắk Lắk cho đến năm 1978.



