DẤU CHÂN TRÊN ĐỈNH CAO VÀ KÝ ỨC VÙNG BIÊN CỦA NGƯỜI LÍNH F314
DẤU CHÂN TRÊN ĐỈNH CAO VÀ KÝ ỨC VÙNG BIÊN CỦA NGƯỜI LÍNH F314
Trong không gian yên bình của những ngày tháng Bảy lịch sử, người cựu chiến binh Ngô Đức Phương khẽ vuốt ve tấm thẻ quân nhân đã ngả màu thời gian. Sinh năm 1960, trải qua những năm tháng tuổi trẻ sôi nổi nhưng đầy gian khổ, ông Phương thuộc thế hệ những người lính trực tiếp tham gia nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc. Với ông, quãng thời gian từ năm 1984 đến năm 1987 tại Đại đội 26 (C20), Trung đoàn 881 (E881), Sư đoàn 314 (F314) là một mảnh ký ức thiêng liêng, khắc sâu vào tâm khảm không bao giờ phai mờ.
Mùa xuân tuổi 24 và chuyến tàu ngược lên ngàn
Năm 1984, khi cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc đang ở giai đoạn vô cùng căng thẳng và quyết liệt, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Núi sông, chàng thanh niên Ngô Đức Phương tròn 24 tuổi đã gạt lại những dự định riêng tư để khoác lên mình màu áo xanh chú bộ đội.
Sau những ngày tháng huấn luyện nghiêm ngặt, ông được biên chế về C20 – Đại đội Trinh sát thuộc Trung đoàn 881, Sư đoàn 314 (Quân khu 2). Sư đoàn 314 ngày ấy là một trong những đơn vị chủ lực kiên cường, nhận nhiệm vụ chốt giữ, phòng thủ và chiến đấu trên địa bàn trọng điểm của mặt trận Hà Tuyên. Khoác lên mình nhiệm vụ của một người lính trinh sát C20, ông Phương cùng đồng đội chính là "đôi mắt" của trung đoàn, thường xuyên phải luồn sâu, áp sát đường biên, nắm bắt mọi di biến động của địch để phục vụ cho các phương án tác chiến.
Kỷ niệm bên chiến hào: Đêm sương muối và tình đồng đội C20
Nói về những năm tháng ở C20, E881, ánh mắt ông Phương lại ánh lên những hoài niệm bồi hồi. Kỷ niệm sâu sắc nhất trong đời binh nghiệp của ông là những đợt bám trụ chiến hào và làm nhiệm vụ trinh sát đêm tại các cao điểm mù sương vào mùa đông năm 1985.
Mùa đông nơi biên cương cực Bắc lạnh như cắt da cắt thịt, sương muối phủ trắng xóa núi đồi. Ông Phương nhớ lại, có những đêm bám trụ trên điểm cao, sương đọng thành băng trên chiếc mũ cối, tay chân tê dại vì cái lạnh thấu xương. Địch bên kia biên giới liên tục bắn pháo bắn phá, tiếng nổ xé tan màn đêm, khói bom lẫn vào sương mờ mịt. C20 của ông vừa phải đảm bảo bí mật tuyệt đối, vừa phải kiên cường bám trận địa.
Trong gian khổ thiếu thốn, giữa ranh giới mỏng manh của sống và chết, tình đồng chí lại bùng lên sưởi ấm tất cả. Ông nhớ nhất hình ảnh người đồng đội cùng tiểu đội chia nhau từng ngụm nước ấm trong chiếc bình tông lõm góc, nhường nhau chiếc áo bông khô ráo duy nhất khi thay ca gác. Có những đêm nằm sát bên nhau dưới hầm pháo, nghe tiếng gió rít qua kẽ đá, các anh lại thầm thì kể cho nhau nghe về quê nhà, về lời hứa ngày chiến thắng trở về. Chính sự đùm bọc, chở che và tinh thần "thép" của lính C20 đã giúp ông cùng đồng đội vượt qua hàng trăm trận pháo kích, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trinh sát được giao.
Trở về với đời thường và ngọn lửa niềm tin
Năm 1987, khi tình hình biên giới bớt căng thẳng, hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, ông Ngô Đức Phương xuất ngũ trở về địa phương. Rời tay súng, ông mang theo hành trang là phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ" được tôi luyện qua khói lửa chiến trường.
Trở lại cuộc sống đời thường, ông tiếp tục đem tinh thần kỷ luật, ý chí không lùi bước trước khó khăn của người lính trinh sát C20 vào lao động sản xuất và phát triển kinh tế gia đình. Dù ở bất kỳ vị trí nào, ông cũng luôn gương mẫu, chấp hành tốt mọi chủ trương của Đảng, Nhà nước, được bà con làng xóm mến thương, kính trọng.
Giờ đây, khi mái tóc đã điểm bạc, những vết chân chim đã hằn sâu nơi đuôi mắt, mỗi lần có dịp gặp lại đồng đội cũ F314, ông Ngô Đức Phương lại cùng các cựu chiến binh ôn lại một thời gian lao mà oanh liệt. 3 năm quân ngũ (1984 – 1987) tuy không quá dài so với một đời người, nhưng là chặng đường đẹp đẽ, kiêu hãnh nhất của tuổi trẻ – thời điểm ông và các đồng đội đã dâng trọn sức trẻ cho sự bình yên của dải đất biên cương Tổ quốc.



