DẤU CHÂN TRÊN ĐƯỜNG MÒN
Tôi là Đỗ Thị Sen, sinh năm 1950, quê ở Nghệ An. Tuổi thơ tôi gắn với con đường đất đỏ chạy qua làng, mùa nắng thì bụi mù, mùa mưa thì lầy lội. Ngày nhỏ, tôi thường đi chân trần trên con đường ấy để ra đồng phụ mẹ nhổ mạ, cấy lúa. Tôi không ngờ sau này, cũng chính đôi chân trần ấy lại đưa tôi vào những cung đường bom đạn của Trường Sơn.
Năm mười tám tuổi, tôi xin vào đội thanh niên xung phong. Mẹ tôi không ngăn, chỉ lặng lẽ vá lại chiếc áo nâu cũ cho tôi. Trước hôm đi, mẹ nắm tay tôi dặn: “Ra chiến trường, con nhớ giữ mình. Nhưng nếu Tổ quốc cần, con đừng sợ.” Lời mẹ nói nhẹ mà nặng như cả một đời.
Tôi được phân về một đơn vị mở đường. Công việc của chúng tôi là phá đá, san hố bom, ngụy trang đường, dẫn xe qua trọng điểm. Đêm xuống, cả cánh rừng như thức dậy. Tiếng cuốc xẻng chan chát, tiếng xe nổ máy từ xa vọng lại, tiếng người gọi nhau khe khẽ trong bóng tối. Chúng tôi làm việc không kể ngày đêm, vì mỗi đoạn đường thông là thêm một đoàn xe vào tiền tuyến.
Trong tiểu đội tôi có anh liên lạc tên Hoàng Văn Khoa, sinh năm 1948, quê ở Hà Nam. Anh thường đi qua cung đường của chúng tôi để chuyển công văn giữa các đơn vị. Anh ít nói, nhưng hay giúp chúng tôi vác đá, kéo cây, sửa hầm. Mỗi lần đi ngang, anh lại hỏi: “Các cô còn cần gì không?” Chúng tôi trêu anh là “người khách quen của đường mòn”.
Một đêm cuối năm, trời mưa lớn. Đường bị bom đánh sạt mất một đoạn bên sườn núi. Nếu không kịp sửa, đoàn xe chở đạn phía sau sẽ phải nằm lại, rất nguy hiểm. Chúng tôi đội mưa lao ra đường. Đất bùn ngập đến mắt cá, đá lăn từ trên cao xuống, lạnh buốt cả chân tay.
Đang làm, anh Khoa chạy tới báo rằng có lệnh chuyển gấp một công văn quan trọng sang sở chỉ huy phía bên kia dốc. Con đường chính chưa thông, chỉ còn một lối mòn nhỏ men theo vách núi. Tôi biết lối ấy vì từng đi hái rau rừng. Anh Khoa nhìn tôi: “Sen, em chỉ cho anh hướng đi được không?” Tôi không suy nghĩ nhiều, đáp: “Em dẫn anh đi.”
Chị tiểu đội trưởng ngăn lại vì mưa to, đường trơn, bom có thể đánh tiếp bất cứ lúc nào. Nhưng công văn không thể chậm. Tôi cầm chiếc đèn pin bọc vải, cùng anh Khoa men theo lối mòn. Mưa quất vào mặt, gió thổi ào ào qua vách đá. Dưới chân là vực sâu đen ngòm, chỉ cần trượt một bước là mất hút.
Đi được nửa đường thì pháo sáng bùng lên. Cả sườn núi trắng lóa. Máy bay địch quay lại. Tôi và anh Khoa nằm ép xuống một gờ đá. Bom nổ phía sau, đất đá tràn xuống lối mòn. Khi tiếng nổ vừa dứt, tôi đứng dậy thì thấy đoạn đường phía trước đã bị lấp. Anh Khoa nói phải quay lại tìm đường khác, nhưng tôi biết nếu quay lại thì không kịp.
Tôi bò qua một khe đá hẹp, dùng tay bới đất mở lối. Đất nhão trơn tuột, móng tay bật máu. Anh Khoa kéo tôi lại, bảo để anh làm. Nhưng tôi lắc đầu: “Em nhỏ người, em chui qua trước được.” Tôi luồn qua khe đá, rồi đưa tay kéo túi công văn của anh sang. Sau đó anh cũng cố lách qua.
Khi chúng tôi tới được sở chỉ huy, cả người ướt sũng, chân tay đầy bùn và máu. Công văn được trao kịp lúc. Sáng hôm sau, tôi trở về đơn vị. Đoạn đường bị bom đánh cũng đã được chị em lấp xong. Đoàn xe qua an toàn trong đêm, để lại trên mặt đường những vệt bánh sâu và dấu chân của chúng tôi chằng chịt trong bùn.
Vài tháng sau, tôi nghe tin anh Khoa hy sinh trong một lần chuyển thư qua trọng điểm. Người ta tìm thấy trong túi áo anh một mảnh giấy nhỏ ghi tên các cung đường và những người anh từng gặp. Trong đó có dòng: “Sen — cô gái dẫn đường trong mưa.”
Tôi đã khóc khi nghe dòng ấy. Tôi không nghĩ một việc nhỏ của mình lại được anh nhớ. Nhưng sau này tôi hiểu, ở chiến trường, mỗi người đều là một dấu chân trên đường mòn. Có dấu chân bị mưa xóa, có dấu chân bị bom vùi, nhưng tất cả đã cùng nhau làm nên con đường đi tới ngày đất nước thống nhất.
Giờ đây, mỗi khi trời mưa, tôi lại nhớ con đường Trường Sơn năm ấy. Tôi nhớ bùn đất, vách núi, tiếng bom và bóng anh Khoa khuất dần trong mưa. Tôi đã đi qua tuổi trẻ bằng đôi chân trần, nhưng những dấu chân ấy không hề lạc lối. Chúng đã in vào ký ức của tôi như những bông hoa lửa âm thầm nở giữa rừng sâu.



