Đầu năm 1973 – Bình Định giữ vững thế và lực cách mạng sau Hiệp định Paris
Đầu năm 1973 – Bình Định giữ vững thế và lực cách mạng sau Hiệp định Paris
Đầu năm 1973, sau khi Hiệp định Paris được ký kết, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Nhân dân ta bước vào một giai đoạn mới. Đối với Bình Định, đây là thời điểm vừa có thời cơ thuận lợi, vừa có những thử thách gay go. Dù địch vẫn ngoan cố phá hoại hòa bình, tiếp tục âm mưu lấn chiếm, bình định, nhưng thế và lực của cách mạng Bình Định đã khác rất nhiều so với thời kỳ sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954.
Trước hết, lực lượng vũ trang cách mạng trong tỉnh đã trưởng thành mạnh mẽ qua nhiều năm chiến đấu. Các lực lượng không chỉ được rèn luyện trong thực tiễn ác liệt của chiến trường, mà còn đứng vững ở một số vùng xung yếu của địa phương. Đây là cơ sở quan trọng để quân và dân Bình Định tiếp tục chống địch lấn chiếm, bảo vệ vùng giải phóng và giữ vững thế trận cách mạng.
Cùng với lực lượng vũ trang, thực lực chính trị của cách mạng cũng được củng cố. Hệ thống đảng viên, cơ sở quần chúng cách mạng, kể cả ở vùng địch kiểm soát và đô thị, vẫn được bảo tồn và phát triển. Điều đó cho thấy dù địch dùng nhiều thủ đoạn đàn áp, kìm kẹp, chiến tranh tâm lý và tình báo, phong trào cách mạng trong Nhân dân vẫn không bị dập tắt. Lòng dân vẫn hướng về cách mạng, vẫn âm thầm nuôi dưỡng niềm tin vào ngày quê hương được hoàn toàn giải phóng.
Một thuận lợi quan trọng khác là căn cứ miền núi được củng cố và xây dựng ngày càng vững chắc. Đây là hậu phương trực tiếp, là nơi đứng chân, bảo toàn lực lượng và phát triển phong trào. Ở đồng bằng, vùng giải phóng và vùng làm chủ được mở rộng, từng bước được củng cố. Những vùng đất ấy không chỉ có ý nghĩa quân sự, mà còn là nơi Nhân dân được làm chủ cuộc sống, xây dựng chính quyền cách mạng, phục hồi sản xuất và tiếp tục đóng góp cho kháng chiến.
Bình Định còn nhận được sự chi viện ngày càng lớn của miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Sự giúp đỡ của tỉnh Hà Tĩnh kết nghĩa, cả về tinh thần và vật chất, đã tiếp thêm sức mạnh cho Đảng bộ, quân và dân trong tỉnh. Đó là biểu hiện sinh động của tình cảm Bắc – Nam ruột thịt, của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn trong sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Đặc biệt, Đảng bộ Bình Định lúc bấy giờ vững vàng về tư tưởng, thanh về tổ chức. Trải qua nhiều năm chiến đấu gian khổ, Đảng bộ đã được tôi luyện, trưởng thành, giữ vai trò lãnh đạo phong trào cách mạng trong toàn tỉnh. Quân và dân Bình Định khát khao hòa bình, thống nhất, nhưng cũng nhận rõ rằng muốn có hòa bình thật sự thì phải tiếp tục đấu tranh đến thắng lợi cuối cùng.
Câu chuyện đầu năm 1973 là một dấu mốc quan trọng trong những năm tháng thời hoa lửa của Bình Định. Sau Hiệp định Paris, dù tình hình còn nhiều phức tạp, nhưng cách mạng Bình Định đã có thế đứng vững chắc hơn, lực lượng lớn mạnh hơn và niềm tin của Nhân dân sâu bền hơn.
Từ lực lượng vũ trang, cơ sở chính trị, căn cứ miền núi đến vùng giải phóng đồng bằng, tất cả đã tạo nên sức mạnh tổng hợp để quân và dân Bình Định tiếp tục bám đất, giữ làng, chống địch lấn chiếm, bảo vệ thành quả cách mạng. Chính thế và lực ấy đã trở thành nền tảng quan trọng để Bình Định cùng cả nước tiến tới thắng lợi cuối cùng trong mùa Xuân 1975.



