Cựu chiến binh

Đấu tranh chống địch phá hoại hiệp định Pari, phối hợp quân dân trong huyện nổi dậy giải phóng Xã Mỹ Nhơn.

Vĩnh Long17/12/2025Võ Thị Ngọc Oanh (xã đoàn Mỹ Chánh Hòa)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Hiệp định Pari vừa ký kết, ngụy đã vạch ra kế hoạch “tràn ngập lãnh thổ” để lấn chiếm vùng kiểm soát của ta. Chúng nhanh chóng triển khai kế hoạch bình định mới, mở những cuộc hành quân “bình định lấn chiếm” nhằm tái chiếm những vị trí đã mất và lấn chiếm thêm các vùng giải phóng cũ, tiếp tục thi hành chiến lược Việt Nam hoá chiến tranh, ngang nhiên phá hoại hiệp định Pari. Chúng bắt dân vẽ cờ ngụy trên nóc nhà (nếu là nhà tôn) và phát cho mỗi nhà một lá cờ bằng thiếc để dán trên nóc nhà (nếu là nhà lá), địch kiểm tra, nếu nóc nhà nào không có cờ thì bị chúng gán tội là Việt cộng, chủ nhà sẽ bị bắt giam. Lính bảo an được đưa đến đóng lại những đồn bót đã bị bức hàng, bức rút trước đó, tiếp tục kìm kẹp, vơ vét sức người sức của của Nhân dân. Đi đôi với càn quét lấn chiếm, địch ra sức củng cố ngụy quyền, Lê Quang Khoe tiếp tục làm Xã trưởng, thay đổi chỉ huy ở các ấp, đưa một số sĩ quan ác ôn làm đồn trưởng các đồn, các chốt quan trọng như đồn Bưng, đồn Kinh,... Khu hành chính xã và một bót chính được xây dựng lại do tên Tam làm đồn trưởng, lực lượng thường trực khoảng hai trung đội, tập trung chủ yếu tại đồn chính, các đồn khác chỉ khoảng một tiểu đội thường trực, dưới sự chỉ huy của các đồn trưởng.

Chúng tăng cường bắt lính, lập lại các đội phòng vệ dân sự, đồn dân vệ lên bảo an để xây dựng lực lượng cơ động do Nguyễn Tấn An làm Trung đội trưởng, à Lê Văn Thà làm Trung đội phó, đẩy mạnh chiến tranh tâm lý, xuyên tạc hiệp định, gây tư tưởng hoài nghi trong quần chúng.

Thực hiện chỉ đạo của trên, chi bộ đã nhanh chóng tổ chức học tập nội dung hiệp định Pari cho cán bộ đảng viên, chiến sĩ và quần chúng Nhân dân (kể cả gia đình binh sĩ), giúp cho mọi người nhận rõ thái độ của kẻ thù. Nhiệm vụ trọng tâm lúc này là giành dân, giữ đất, mở rộng vùng giải phóng; gắn nhiệm vụ đánh địch với chống lấn chiếm, bảo vệ vùng giải phóng, hướng tiến công chủ yếu là vùng địch kiểm soát và vùng ven.

Được sự hỗ trợ của địa phương quân huyện, lực lượng du kích kết hợp với quần chúng Nhân dân tổ chức chống càn nhằm làm tiêu hao sinh lực địch. Đêm 17/10/1973, dựa vào cơ sở nội tuyến, ta đánh đồn Bưng, diệt 4 tên địch (trong đó có đồn trưởng Quỳ - là cán bộ ta đã chiêu hồi) và triển khai chặn đánh quân tiếp viện làm bị thương 5 tên khác. Sau trận đánh này, nội bộ địch chia rẽ sâu sắc, nghi ngờ lẫn nhau và không tổ chức càn quét, ta đã phát triển thêm cơ sở trong vùng yếu, kế hoạch lấn đất dành dân của địch bị thất bại. Thế tiến công của ta bắt đầu, địch chuyển từ chủ động tấn công sang thế bị động phòng thủ, co cụm trong đồn bót.

Quân dân Mỹ Nhơn vừa chiến đấu chống bình định lấn chiếm vừa đẩy mạnh hoạt động các mặt nhằm tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, phối hợp với chiến trường chung, chuẩn bị cho trận đánh cuối cùng.

Cuối năm 1974, địch còn đóng 5 đồn bót (1 phân chi khu, 1 đồn dân vệ, 3 đồn phòng vệ), tề và lính 86 tên (dân vệ 30, phòng vệ 35, tề xã 8, tề ấp 6, cảnh sát 7 tên). Ấp Nhơn Phú 1 đồn (phân chi khu) quân số 47 tên (22 dân vệ, 10 phòng vệ, 7 cảnh sát, 8 tề). Ấp Nhơn Quới 1 đồn tại đầu giồng tây, quân số 8 tên (6 phòng vệ, 2 tề). Ấp nhơn Thuận 2 đồn (đồn đầu giồng đông, đồn cống), quân số 2 đồn 19 tên. Ấp Nhơn Hòa 1 đồn (đồn Cầu tiêu) 14 tên (10 phòng vệ, 2 tề, 2 Hội đồng Nhân dân)

Lực lượng cách mạng có 40 đảng viên (số lộ: 22, không lộ: 18), xã ủy có 7 đồng chí, xã đội 3 (1 trưởng, 1 chánh, 1 phó), du kích xã 6 (1 đảng viên, 5 đoàn viên), có các Ban Tuyên huấn, Ban An ninh, Ban Kinh tài, Ban Binh vận, Ban chấp hành Nông hội, Ban chấp hành Hội Phụ nữ.

Ngày 1/4/1975, ban chấp hành Trung ương Đảng họp nhận định tình hình, đề ra nhiệm vụ mới và hạ quyết tâm: “nắm vững thời cơ chiến lược hơn nữa, với tư tưởng chỉ đạo thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng, thực hiện tổng công kích, tổng khởi nghĩa trong thời gian sớm nhất, tốt nhất là trong tháng 4/1975, không thể để chậm.”

Đầu tháng 4/1975, Thường vụ Trung ương Cục đã ra nghị quyết chỉ đạo việc nắm lấy thời cơ thực hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa theo phương châm tỉnh giải phóng tỉnh, huyện giải phóng huyện, xã giải phóng xã. Thời điểm này, ngụy quân, ngụy quyền ở miền Nam nói chung, Mỹ Nhơn nói riêng rất hoang mang, chúng bị kiềm chế, bị giam chân trong các đồn bót. Thanh niên gia nhập lực lượng vũ trang ngày càng đông, quần chúng phối hợp với lực lượng vũ trang, du kích bao vây đồn bót địch, thi đua góp sức người, sức của cho trận quyết chiến cuối cùng. Ta đẩy mạnh công tác binh vận, kêu gọi và phân hóa hàng ngũ địch.

Trong đêm 29/4/1975, Huyện ủy điều các đồng chí Ba Trung, Hai Len, Tư Phúc về Mỹ Nhơn kết hợp với lực lượng tại chỗ được chi bộ phân công tiếp quản hệ thống đồn bót trên địa bàn xã. Đêm 30/4/1975 ta vận động các gia đình đồn trưởng, gia đình binh sĩ đến kêu gọi nhưng họ không chịu bàn giao.

21 giờ đêm 30/4/1975, quân ta đã làm chủ thị trấn Ba Tri và đến 7 giờ sáng ngày 1/5/1975, toàn bộ quân địch trong dinh quận và chi khu Ba Tri đều đầu hàng, trong khi đó, các đồn bót ở Mỹ Nhơn vẫn án binh bất động. Xã trưởng Lê Quang Khoe còn ra lệnh tử thủ và cho đặt mìn trước cửa các đồn và tử thủ. Ta tiếp tục làm công tác dân vận bao vây các đồn bót khác, đồng chí Hai My - Chi ủy viên - đưa lực lượng du kích và quần chúng vây đồn đầu giồng, đồn Kinh, đến 9 giờ sáng ngày 1/5/1975, thì lực lượng ta tràn vào chiếm được đồn. Sau khi tiếp thu hai đồn này, du kích kéo đến đồn Cầu Tiêu, ở đây bọn lính đã trốn hết, ta vào tiếp thu vũ khí và quân trang, quân dụng. Khu vực hành chính xã địch cũng chưa chịu giao. Ta chuyển sang làm công tác địch vận, trong lúc có Trung sĩ Thành (thám báo của đại đội 995) được cách mạng khoan hồng trên đường từ Ba Tri về gặp đồng chí Ba Trung. Đồng chí Ba Trung báo lại tổ chức, tổ chức cử người đưa tên Thành đến cổng khu hành chính xã, cho Trung sĩ Thành đến gặp những tên ngụy quân, ngụy quyền trong đó nói chuyện và gọi hàng. Đến 10 giờ ngày 1/5/1975 thì Lê Quang Khoe mới đồng ý giao khu hành chính cho ta. Xã Mỹ Nhơn hoàn toàn giải phóng.

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 đã giành thắng lợi hoàn toàn. Đó là kết quả của 21 năm đấu tranh bền bỉ, anh dũng của quân dân Mỹ Nhơn, của sự quán triệt, chấp hành và vận dụng đường lối cách mạng, đường lối chiến tranh Nhân dân đúng đắn, sáng tạo vào điều kiện thực tế ở địa phương. Đó còn là kết quả của quá trình động viên sức mạnh tổng hợp của toàn dân, kết hợp đấu tranh cả ba mặt trận: chính trị, quân sự, binh vận; giữa tiến công và nổi dậy giành chính quyền làm chủ, giành thắng lợi từng phần đi đến thắng lợi hoàn toàn. Với những thành tích nổi bật nêu trên, đặc biệt là giai đoạn chống Mỹ, đồng chí Nguyễn Văn Cho được tặng Huân chương chiến công giải phóng hạng III và được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân vào năm 1970. Sau ngày giải phóng, Mỹ Nhơn được trên chọn báo cáo thành tích và được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang thời kỳ chống Mỹ cứu nước vào ngày 28/4/2000.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn