ĐẤU TRANH CHỐNG THỰC DÂN PHÁP CỦA NHÂN DÂN Ở ĐĂK KÔI TỪ NĂM 1930 ĐẾN NĂM 1954.
ĐẤU TRANH CHỐNG THỰC DÂN PHÁP CỦA NHÂN DÂN Ở ĐĂK KÔI TỪ NĂM 1930 ĐẾN NĂM 1954.
Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, dưới ách thống trị của thực dân Pháp, cũng như nhân dân cả nước, đồng bào các dân tộc Xê Đăng ở Đăk Kôi luôn trong cảnh bị áp bức bóc lột, phải đi xâu, đi phu phen, làm đường phục dịch…đời sống của đồng bào đã khổ vì tình trạng kinh tế thấp kém, vì thiên tai, mất mùa, ốm đau, dịch bệnh lại thêm gánh khổ bởi sự áp bức bóc lột dã man, độc ác của bọn thống trị.
Không hề khuất phục trước âm mưu và hành động của kẻ địch, đồng bào Xê Đăng ở Đăk Kôi đã liên tục nổi dậy đấu tranh chống địch. Ngay trong giai đoạn đầu khi thực dân Pháp chiếm đóng Kon Tum mở rộng phạm vi chiếm đóng ra vùng Kon Prai, Kon Plông, đồng bào nơi đây đã thực hiện bố phòng, rào làng, rào ngỏ, phục kích chống Pháp bắt đi xâu, đi lính, thu thuế, quyết tâm giữ làng, giữ đất, giữ gìn tài sản hoa màu...
Tiêu biểu nhất trong phong trào đấu tranh của đồng bào Xê Đăng trước cách mạng Tháng Tám là cuộc đấu tranh hưởng ứng phong trào “ Nước Xu”, do ông Thuần thủ lĩnh người Xê Đăng ở làng Đăk Mil (ngày nay thuộc xã Đăk Kôi) lãnh đạo, đã nhanh chóng lan tỏa cả một vùng rộng lớn từ Kon Plong đến Đăk Tô, Đăk Sút, Mường Hoong. ở tỉnh Kon Tum. Vùng Đăk Kôi sớm trở thành trung tâm căn cứ kháng chiến của đồng bào Xê Đăng trong phong trào “Nước Xu”. Đồng bào nơi đây đã góp lúa, góp gạo, trâu bò, cử thanh niên trai tráng khỏe mạnh tham gia nghĩa quân, đồng thời tổ chức lực lượng để bảo vệ làng, dùng cung tên, giáo mác, chông bẫy chống lại bọn Pháp đi thu thuế, bắt xâu.
Theo thông tin từ các nguồn tư liệu cho biết: Ông Thuần thủ lĩnh người Xê Đăng ở làng Đăk Mil (ngày nay thuộc xã Đăk Kôi). Là thủ lĩnh nghĩa quân, ông đã đứng ra tổ chức lực lượng và quy tập nhân dân trong vùng và các vùng lân cận để đánh Pháp. Ông đã bí mật tuyển lựa thành lập một đội quân 60 thanh niên sống “ bất hợp pháp” trong rừng. Đội quân này thường tổ chức các cuộc phục kích , đột kích đánh vào bọn pháp bắt đi xâu hoặc coi phu làm đường. Trước khi xuất quân, họ khấn một bài khấn như sau:
Xương trâu ta phơi trắng đầy rừng vị giặc Pháp bắn.
Rau mát xanh um đồng ta vì đâu còn có lợn để ăn.
Rẫy ta đầy cỏ mọc vì chủ nó phải đi xâu.
Xác người thân ta chết vùi dưới gốc cây xà nu.
Nhà rông ta đổ vì đâu còn thanh niên mà dựng lại
Làng ta tiêu điều như tổ chim chèo bẻo bị phá
Ai làm ta khổ? Cái cuốc chim của giặc Pháp.
Nước Thần sẽ giúp ta đứng dậy bảo vệ núi rừng”[1]
Phong trào được nhân dân các dân tộc Xê Đăng, Ba Na, người Kinh không chỉ trong vùng mà khắp các nơi lân cận nhiệt tình hưởng ứng, ửng hộ. Nhiều làng không chịu đi xâu, chống nộp thuế và đã nổi lên rào đường, bố phòng, cắm chông, vây hãm đồn binh đánh các toán địch đi lùng gây cho chúng nhiều thiệt hại.
Năm 1938, giặc Pháp ra sức khủng bố, mang quân đến đánh phá. Chúng mở các cuộc càn quét lớn vào vùng Đăk Kôi và các địa phương lân cận thuộc các huyện Đăk Tô, Kon Rẫy, Kon Plông trong nhiều tháng liền. Được sự ủng hộ của nhân dân, nghĩa quân của ông Thuần đã đánh trả rất quyết liệt và dũng cảm. Tiêu biểu như trận Kon Biêu, nhân dân đã cầm chân giặc suốt 03 ngày và giết được 5 tên Pháp, 15 tên lính khố xanh.
Sự dũng cảm kiên cường của nhân dân trong phong trào “ Nước Xu” ở Đăk Kôi nói riêng và tỉnh Kon Tum nói chung đã gây cho địch nhiều khó khăn , ngăn chặn sự kiểm soát của địch đối với vùng đồng bào dân tộc suốt hơn 10 năm trời. Từ trong phong trào xuất hiện nhiều chỉ huy gan dạ, dũng cảm, là nòng cốt trong phong trào kháng chiến sau này.
Điểm nổi bật trong sự lớn mạnh của phong trào là biết qui tụ được nhiều thành phần dân tộc, dựa vào sức mạnh của nhân dân để quyên góp xây dựng lực lượng, lập được nhiều đồn trú, căn cứ kháng chiến.
Tuy bị thực dân Pháp đàn áp nhưng phong trào “Nước Xu” đã thể hiện tinh thần đấu tranh bất khuất, kiên cường, thể hiện tinh thần đoàn kết, gan dạ, dũng cảm của nhân dân vì mong ước một cuộc sống độc lập, tự do. Chính với lòng mong ước thiết tha đó, đồng bào Xê Đăng ở Đăk Kôi dễ dàng đến với cách mạng và tiếp thu sự lãnh đạo của Đảng.
Tháng Tám năm 1945, nhân dân toàn quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam[2] đã tiến hành cuộc cách mạng vĩ đại lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp, xóa bỏ chế độ phong kiến, giành độc lập tự do, thành lập nên Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước của nhân dân, do nhân dân làm chủ.
Ánh sáng của Đảng và bầu không khí của độc lập tự do từ cao trào cách mạng tháng Tám đem lại đã nhanh chóng lan rộng đến tận các vùng xa xôi hẻo lánh, đến với đồng bào Xê Đăng ở Đăk Kôi.
Ngày 19-4-1946, Đại hội quốc dân thiểu số miền Nam Việt Nam họp tại thị xã Plei Ku. Đại hội đón nhận thư chúc mừng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vô cùng thắm thiết và xúc động: “ Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Ya Rai hay Ê đê, Sê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng lại để giữ vững quyền độc lập, tự do của chúng ta”.
Sau đại hội, thư của Hồ Chủ tịch được dịch ra các tiếng Ba Na, Gia Rai, Xê Đăng để phổ biến đến cộng đồng các dân tộc bản địa ở khắp Tây Nguyên và miền Nam. Từ đó, hình ảnh Bác Hồ lan tỏa và thấm sâu vào tâm trí mỗi người dân, là động lực và niềm tin để nhân dân tin Bác theo Đảng làm cách mạng đến thắng lợi cuối cùng.
Cuối năm 1945 thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta. Giữa năm 1946, thực dân Pháp bắt đầu tấn công lên Tây Nguyên. Ngày 24-6-1946, Pháp chiếm thị xã Kon Tum, vài ngày sau đó, chúng lần lượt đưa quân đánh chiếm lên các huyện trong tỉnh. Từ đây, đồng bào Xê Đăng ở Đăk Kôi tiếp tục cùng với quân dân tỉnh Kon Tum và cả nước bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp.
Để đánh bại quân Pháp, giành thắng lợi hoàn toàn, Trung ương Đảng và Bác Hồ đã đề ra đường lối kháng chiến toàn dân toàn diện và trường kỳ.
Đối với Tây Nguyên nói chung và Kon Tum nói riêng, tình hình lúc này ở mỗi địa phương cơ sở kháng chiến còn rất mỏng, nhiều nơi chưa có tổ chức đảng, vì vậy Trung ương Đảng chỉ đạo Xứ ủy Trung kỳ tăng cường lực lượng lên Tây Nguyên để xây dựng cơ sở cách mạng, phát động và đẩy mạnh phong trào kháng chiến.
Theo đó, từ giữa năm 1946, các đội vũ trang tuyên truyền của ta đã trở lại địa bàn Kon Tum, thực hiện nhiệm vụ bám đất, bám dân, xây dựng bàn đạp và hành lang, phát triển cơ sở, phát động chiến tranh du kích. Lấy trung tâm thị xã Kon Tum làm mục tiêu hướng đến, các đội vũ trang tuyên truyền đã mở các hướng từ miền núi Quảng Ngãi lên Kon Plong theo đường số 5 (nay là đường 24) để tiến về thị xã và hướng từ Gia Lai theo đường 14 sang bám vào ven thị xã Kon Tum để làm bàn đạp tiến vào trung tâm thị xã. Đăk Kôi chịu ảnh hưởng từ vùng bàn đạp phía đông thị xã, từ hướng Ba Tơ (Quảng Ngãi) lên Măng Bút (Kon Plong) theo đường 24 phát triển vào thị xã.
Chỉ trong một thời gian ngắn, các đội vũ trang công tác ở phía đông tỉnh Kon Tum đã xây dựng được cơ sở và hành lang kháng chiến khá vững chắc . Tháng 7-1947, Ban cán sự Đảng và Ủy ban kháng chiến đông và bắc Kon Tum được thành lập; dưới sự lãnh đạo của ban cán sự Đảng và ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh, phong trào kháng chiến của các địa phương ở phía đông Kon Tum, trong đó có vùng Đăk Kôi có bước phát triển. Cơ sở kháng chiến chống Pháp được xây dựng tương đối nhanh, vững vàng do nhân dân một lòng tin tưởng vào Đảng và Bác Hồ, Mặt trận Việt Minh. Đồng bào động viên nhau bí mật làm nhà, góp gạo, muối ..chuẩn bị đón cán bộ về làng hoạt động.
Đến cuối năm 1948, một đội vũ trang tuyên truyền hoạt động ở vùng xã Hiếu (Kon Plong) đã phát triển về phía tây sông Đăk Snghé, đến vùng tây bắc Kon Prai. Từ đây phong trào kháng chiến chống Pháp của đồng bào Xê Đăng vùng Đăk Kôi được sự hỗ trợ của đội vũ trang tuyên truyền đã phát triển thêm bước mới. Trong những năm sau đó, được cán bộ cách mạng tuyên truyền giúp đỡ và hướng dẫn, đồng bào đã đoàn kết sản xuất, làm rẫy kháng chiến, dự trữ lúa gạo, thực hiện vệ sinh phòng bệnh...
Với lợi thế của một vùng địa bàn xa trung tâm căn cứ của địch, đồng bào Xê Đăng nơi đây được cán bộ cách mạng tuyên truyền, vận động giáo dục đã một lòng tin tưởng hướng về Đảng, về Bác Hồ, Đăk Kôi đã sớm thể hiện được ưu thế của một vùng căn cứ và đã được Ban cán sự Đảng tỉnh chú trọng.
Suốt trong những năm chống Pháp, vùng đất Đăk Kôi nằm trong vùng tự do phía sau và xa địch nên ít chịu ảnh hưởng của biến động thời cuộc. Trong khi đó, trên chiến tỉnh Kon Tum nói riêng và toàn quốc nói chung, phong trào kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, Bác Hồ, và Mặt trận Việt Minh đã có sự phát triển vượt bậc về mọi mặt, cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện trường kỳ của quân và dân ta từ giai đoạn đầu cầm cự, phòng ngự đã chuyển sang giai đoạn phản công và chuẩn bị tổng tấn công. Sau những chiến thắng vang dội ở tất cả các địa phương trên khắp các vùng miền, Trung ương Đảng chủ trương mở cuộc tổng tấn công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 đánh địch bằng những đòn đánh lớn trên tất cả các hướng.
Tại Tây Nguyên, ở phía đông tỉnh Kon Tum, ngày 27-01-1954, bộ đội ta nổ súng tấn công cứ điểm Măng Đen, sau đó tiếp tục đánh vào cứ điểm Măng Buk, chỉ trong một thời gian ngắn đã tiêu diệt và làm chủ hoàn toàn hai căn cứ này. Phát huy thắng lợi, từ 29-01 đến 3-2-1954, lực lượng ta tiến lên phía bắc tấn công địch ở Đăk Tô, Đăk Glei, giải phóng hoàn toàn khu vực phía đông và bắc tỉnh Kon Tum, trong đó có xã Đăk Kôi.
Trước nguy cơ bị tiêu diệt, địch chủ trương rút bỏ thị xã Kon Tum chạy về Plei Ku, các lực lượng ta tổ chức truy kích và tiêu hao sinh lực địch. Ngày 7-2-1954, thị xã Kon Tum được giải phóng tỉnh Kon Tum được giải phóng hoàn toàn.
Ngay từ trước khi địch rút bỏ khỏi thị xã Kon Tum, các địa phương đã triển khai ngay công tác tiếp quản , xây dựng những vùng đã giải phóng . Tại Đăk Kôi, hòa chung với khí thế vui mừng phấn khởi khi quê hương được giải phóng, đồng bào hăng hái tích cực thực hiện các công việc ổn định đời sống, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, giữ gìn trật tự thôn làng
Sau khi được giải phóng, Ban Cán sự miền Tây quyết định chia tỉnh Kon Tum thành 9 khu (từ khu 1 đến khu 9). Trong đó, Khu 1 từ Giá Vụt ( Quảng Ngãi) lên đường 14, Khu 6 từ Voa Mơ Na đến biên giới Lào, bắc giáp Khu 3, Nam giáp Khu 1. Theo sự phân chia đó, Huyện H16, trong đó có Đăk Kôi nằm trong vùng Khu 1 với phần đất phía đông Khu 6. Mỗi khu có Ban cán sự Đảng lãnh đạo, Khu 6 lúc đầu có 3 ủy viên (gồm các đồng chí Trần Thanh Dân, Phan Xuân Trạch, Đỗ Thanh Tuyền) do đồng chí Trần Thanh Dân phụ trách. Về sau tỉnh bổ sung đồng chí Nguyễn Chiến (Huề) về làm Bí thư. Mỗi khu đều tổ chức lực lượng tự vệ nhân dân dưới sự lãnh đạo chỉ đạo trực tiếp của ban cán sự khu.
Trên chiến trường cả nước, quân và dân ta liên tiếp giành nhiều thắng lợi lớn trên tất cả mọi mặt. Đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ (7/5/1954) tập đoàn cứ điểm lớn nhất của Pháp đã bị tiêu diệt làm chấn động dư luận nước Pháp và thế giới. Trong thế thất bại, Pháp buộc phải ký kết Hiệp định Giơnevơ vào ngày 20-7-1954, công nhận chủ quyền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta.
II- NHÂN DÂN XÃ ĐĂK KÔI TRONG CÔNG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ-NGỤY (1954-1975).
Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, chủ quyền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta được công nhận,. Theo Hiệp định Giơ neve, nước Việt Nam tạm chia làm 2 miền Nam-Bắc, lấy vĩ tuyến 17 (sông Bến Hải, Quảng Trị) làm giới tuyến tạm thời để hai bên thực hiện bàn giao chính quyền và tập kết lực lượng. Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội. Miền Nam trước mắt do quân đội liên hiệp Pháp kiểm soát, dự kiến sau hai năm (đến 20-7-1956) sẽ tổ chức hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Thế nhưng, đế quốc Mỹ với âm mưu lâu dài muốn chiếm đóng và làm chủ Đông Dương đã nhảy vào can thiệp, ngăn cản việc thực thi hiệp định. Mỹ từng bước hất cẳng Pháp, chiếm lấy miền Nam Việt Nam. Sau khi gây sức ép, Ngày 13-12-1954, Mỹ ký với Pháp bản hiệp ước để Mỹ trực tiếp viện trợ quân sự, tổ chức trang bị, huấn luyện, chỉ huy quân đội Sài Gòn, tiến hành xây dựng các căn cứ quân sự, sân bay và đặt miền Nam dưới sự bảo trợ của khối quân sự Đông Nam Á (SEATO). Mặt khác, Mỹ đưa Ngô Đình Diệm (người được Mỹ nuôi dưỡng, đào tạo) lên nắm chính quyền ở miền Nam. Từ ngày 7-7-1954, đến ngày 23-10-1955, Mỹ-Diệm bày trò “trưng cầu dân ý” để loại trừ sự dính líu quân sự của Pháp và phế truất Bảo Đại để Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống. Và sau cuộc trưng cầu dân ý trá hình, Ngô Đình Diệm chính thức lên làm Tổng thống chính quyền ở miền Nam, ngày 4-3-1956, chính quyền Ngô Đình Diệm dưới sự hậu thuẫn của Mỹ tổ chức bầu cử Quốc hội, biến Miền Nam thành quốc gia riêng lẻ gọi là Việt Nam cộng hòa. Ngày 20-7-1956, Ngô Đình Diệm trắng trợn tuyên bố: “ Không có hiệp thương tổng tuyển cử, chúng ta không ký Hiệp định Giơ ne ve, bất kỳ phương diện nào, chúng ta cũng không bị ràng buộc bởi hiệp định đó”[3]
Đến đây, Miền Nam nước ta chính thức rơi vào tay Mỹ-ngụy, cùng với nhân dân cả nước, nhân dân các dân tộc trên địa bàn Đăk Kôi tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng giành độc lập dân tộc.
Về phía ta, Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch đã sớm nhận thấy âm mưu của Mỹ -Ngụy. Từ tháng 7-1954, khi Mỹ từ chối ký Hiệp định Giơ ne ve, Trung ương Đảng đã khẳng định: “ Đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới, và hiện đang trở thành kẻ thù trực tiếp của nhân dân Đông Dương”[4]. Và ngay sau khi hiệp định Giơ ne vơ được ký kết, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi đồng bào, chiến sỹ cả nước. Đối với đồng bào miền Nam đi trước về sau, Người khẳng định và động viên: “Đồng bào miền Nam kháng chiến trước hết, giác ngộ rất cao. Tôi chắc rằng đồng bào sẽ đặt lợi ích cả nước trên lợi ích địa phương, lợi ích lâu dài trên lợi ích trước mắt, mà ra sức cùng đồng bào toàn quốc phấn đấu để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập dân chủ trong toàn quốc,..” “ đấu tranh để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ cũng là một cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ. Để giành lấy thắng lợi, toàn thể nhân dân, quân đội và cán bộ ta từ Bắc đến Nam cần phải đoàn kết chặt chẽ, tư tưởng phải thống nhất, hành động phải nhất trí”. Lời kêu gọi của Bác không chỉ vừa động viên nhắn nhủ mà đồng thời còn chỉ rõ tính chất phức tạp của tình hình, cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà của nhân dân miền Nam nói riêng và cả nước nói chung sẽ lâu dài và gian khổ.
Tại tỉnh Kon Tum, sau khi hiệp định Giơ ne vơ được ký kết, một trung đội quân Pháp đến tiếp quản, sau khi củng cố được thế đứng vững chắc, hất chân quân Pháp, chính quyền Ngô Đình Diệm đã triển khai một loạt các biện pháp để quản lý và trấn áp phong trào cách mạng quần chúng.
Giữa năm 1955, sau khi thành lập xong chính quyền cấp quận, địch triển khai việc phân chia địa bàn các xã, những xã lớn được chúng chia thành các xã nhỏ để dễ quản lý địa bàn. Để thắt chặt quản lý, địch xây dựng hệ thống chính quyền bên dưới ấp, mỗi ấp có khoảng hơn chục hộ, do một ấp trưởng đứng đầu cai quản. Để tách quần chúng với cách mạng, địch thực hiện việc bắt gom dân về sống quanh các căn cứ, quận lỵ và trung tâm xã. Ngoài việc thường xuyên tuyên truyền, đầu độc, lừa bịp lôi kéo người dân trong vùng chúng kiểm soát, địch còn tiến hành mở các cuộc càn quét, bắt bớ, gom dân vào vùng chúng kiểm soát, trấn áp và bắt giết tất cả những người từng theo cách mạng, kể cả những người chúng cho là thuộc diện tình nghi.
Địa bàn Đăk Kôi tuy cách xa trung tâm quận lỵ của địch, mặc dù chúng chưa thiết lập được bộ máy chính quyền quản lý trực tiếp một cách có hệ thống, nhưng với mục tiêu kiểm soát địa bàn, kiểm soát chặt dân, tách dân ra khỏi cán bộ cộng sản, tách khỏi ảnh hưởng với cách mạng, chính quyền Ngô Đình Diệm đã nỗ lực mở rộng phạm vi kiểm soát đến tận các vùng sâu, vùng xa. Đến trước năm 1960, địa bàn H16 nói chung trong đó có các xã thuộc xã Đăk Kôi ngày nay phải chịu sự kiểm soát của chính quyền Ngô Đình Diệm1, người dân phải sống trong thế hợp pháp với chính quyền địch.
Ngay sau Hiệp định Giơnevơ ký kết, thực hiện chủ trương chiến lược của Đảng, triển khai tinh thần Hội nghị của Ban cán sự Đảng tỉnh Kon Tum (tháng 8-1954) tại Kon Hơ Ring (Đăk Tô), lực lượng cán bộ được phân công ở lại của tỉnh đã nhanh chóng xác định các vị trí địa bàn chiến lược để trụ bám. Địa bàn các xã thuộc Đăk Kôi đã sớm được lựa chọn là vùng trụ bám của cán bộ cách mạng. Các đồng chí trong các ban cán sự của khu 1 và khu 6 gồm: Lê Hai, Huỳnh Văn Cần (Mẫn), Trần Liêu (Peo), Nguyễn Chiến (Huề), Nguyễn Tập (Phùng), ... đã trực tiếp trụ bám tại địa bàn các xã thuộc Đăk Kôi.
Những năm đầu sau Hiệp đinh Giơ ne vơ, các cán bộ bám trụ địa bàn đã dựa vào thế núi rừng hiểm trở xa địch, không có ngụy quyền cơ sở, kết hợp với truyền thống đoàn kết đấu tranh, làm chủ thôn làng của nhân dân để hoạt động xây dựng cơ sở, căn cứ cách mạng. Ngay trong thời gian đầu hoạt động, các đồng chí đã xây dựng được cơ sở tại làng Kon Săk Bih, Kon Rlong, Kon Rgoh ( hiện nay thuộc xã Đăk Kôi), các làng này về sau trở thành căn cứ huyện ủy của H16 trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ. Từ cơ sở và căn cứ ban đầu, hoạt động gây dựng, phát triển cơ sở, triển khai các mặt công tác được đẩy mạnh. Hoạt động của cán bộ công khai với nhân dân nhưng bí mật với địch. Cán bộ thường xuyên bám chắc, thân thiết với từng bếp nhà, nắm được dân, đoàn kết được lớp trên, già làng, đoàn kết được nhiều làng trong một vùng rộng lớn, dựa vào dân mà che giấu, giữ gìn lực lượng. Khi địch càn quét lùng sục thì cán bộ, đảng viên, chi bộ tạm lánh cùng với số nam nữ thanh niên, địch rút thì trở về.
Ngay trong giai đoạn đầu của thời kỳ chống Mỹ-Diệm, tuy chưa nhận thức sâu sắc về căn cứ cách mạng miền Nam, nhưng các tổ chức đảng trên địa bàn tỉnh Kon Tum đã chú trọng xây dựng căn cứ. Không những xây dựng củng cố vùng căn cứ du kích cũ mà còn xây dựng thêm những vùng, những lõm căn cứ mới. Vùng Đăk Kôi đã sớm được lựa chọn để xây dựng thành vùng căn cứ lõm2 của huyện và tỉnh. Tại đây, nhân dân được cán bộ cách mạng hướng dẫn và tổ chức đã triển khai các phong trào hành động cách mạng do Ban cán sự Đảng tỉnh phát động như đẩy mạnh phong trào sản xuất, tổ chức các tổ vòng công hợp tác tương trợ lao động; đấu tranh đòi được tự do đi lại giao lưu giữa các vùng với nhau, thực hiện vệ sinh phòng bệnh, phát động và tổ chức phong trào học chữ, nhất là trong lực lượng thanh niên nam, nữ...
Xuyên suốt những năm 1955-1959, trong bối cảnh tình hình chung của cách mạng miền Nam, cùng với phong trào cách mạng của nhân dân các dân tộc tỉnh Kon Tum, nhân dân các xã thuộc địa bàn Đăk Kôi trong điều kiện và hoàn cảnh thực tế của địa phương đã tham gia vào phong trào đấu tranh chung trên địa bàn toàn tỉnh như: đấu tranh đòi địch thi hành Hiệp định Giơ ne vơ, chống càn quét, gom dân, thành lập chính quyền cơ sở, chống tố cộng diệt cộng, đặc biệt, với mục tiêu xây dựng vùng địa bàn thành căn cứ chiến lược lâu dài.
Từ năm 1957, nhiều cán bộ cơ sở vào làng tuyên truyền vận động, giác ngộ thanh niên làm nhiệm vụ cách mạng, trong đó có A Bliên[5] (sau này trở thành Bí thư Đảng ủy xã Đăk Kôi). Cũng từ đây, dưới sự tổ chức hướng dẫn của cán bộ trụ bám tại địa bàn, cùng với truyền thống yêu nước cách mạng của nhân dân, các phong trào hành động cách mạng nhằm mục tiêu xây dựng vùng căn cứ đã được triển khai sâu rộng. Đáng chú ý là từ cuối năm 1958, thực hiện chủ trương của Ban cán sự Đảng tỉnh, tại vùng Đăk Kôi đã lựa chọn những thanh niên trai tráng khỏe mạnh để thành lập các tổ tự vệ mật, các tổ tự vệ này được huấn luyện và trang bị những vũ khí thô sơ để làm nhiệm vụ bảo vệ thôn làng, bảo vệ cán bộ cách mạng, đồng thời diệt, trấn áp bọn phản động và ác ôn theo chỉ đạo của tổ chức đảng. Việc xây dựng lực lượng tự vệ vũ trang cũng nhằm chuẩn bị cho phong trào hành động cách mạng vũ trang khi thời cơ đến
Cuối năm 1959, đầu năm 1960, phong trào Đồng khởi lan rộng khắp miền Nam. Trong khi thế sôi sục chuẩn bị cho tấn công và nổi dậy, ngày 9-3-1960, Đại hội Đảng bộ tỉnh Kon Tum lần thứ nhất diễn ra tại núi Ngok An (H80). Đại hội đã bầu Ban chấp hành Đảng bộ, Ban Thường vụ và quyết định nhiệm vụ trọng tâm cấp bách là “ Nỗ lực cao độ để chuyển tình hình cách mạng Kon Tum lên một bước mới, phối hợp chung với Tây Nguyên và toàn miền nổi dậy, tiến công địch, diệt ác, phá kèm, mở rộng quyền làm chủ, xây dựng căn cứ địa cách mạng vững chắc”1.
Sau Đại hội, Đảng bộ tỉnh Kon Tum có sự điều chỉnh về địa bàn các khu để thành lập các huyện, tạo thuận lợi cho việc lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát phong trào kháng chiến, cách mạng ở từng địa phương. Theo đó, khu 1 và đông khu 6 nhập thành H16 tương ứng với 1 huyện. Các khu khác trên địa bàn tỉnh cũng có sự sáp nhập thành lập huyện1. Theo sự điều chỉnh đó, H16 có các xã là: Đăk Ui, Đăk Mong, Ngok Bơ Dềnh, Ngok Rinh, Đăk Rơ Ganh, Đăk Y Ni, Ngok Duông, Đăk Hlo, Đăk Kấm, Đăk Pia, trong đó, các xã Đăk Rơ Ganh, Đăk Hlo, Đăk Pia, Đăk Mong sau này thuộc xã Đăk Kôi..
Ngay khi thành lập huyện, Ban cán sự H16 đã tích cực triển khai các mặt công tác để chuẩn bị cho đại hội Đảng bộ huyện, đồng thời lãnh đạo phong trào cách mạng địa phương phát triển theo yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới. Giữa năm 1960, Đại hội Đảng bộ H16 lần thứ nhất được tiến hành tại Suối Đăk Muối thuộc khu vực làng Kon Săk Bih và làng Kon Rlong2 (xã Đăk Kôi ngày nay) Đại hội đã bầu Ban chấp hành Đảng bộ, Ban Thường vụ do đồng chí Nguyễn Phùng (Tập) làm Bí thư, đồng chí Trần Liêu làm Phó Bí thư.
Triển khai nhiệm vụ cách mạng theo chủ trương đường lối của Đảng, Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh Kon Tum và Đại hội Đảng bộ H16, phong trào cách mạng của nhân dân các dân tộc trên địa bàn Đăk Kôi tiếp tục phát triển với những bước tiến vượt bậc.
Từ năm 1960-1962, chính quyền Mỹ-Ngụy xây dựng rào ấp chiến lược kiên cố, ra sức giành dân với ta, dồn dân vào các ấp chiến lược để kìm kẹp. Nhằm chống trả lại âm mưu hành động địch, ta thực hiện tuyên truyền, vận động nhân dân bỏ làng vào rừng sâu để tránh dồn dân vào ấp chiến lược và tiến hành bố phòng, đào hầm, cắm chông, làm bẫy đá, xây dựng lực lượng du kích xã, thôn bảo vệ dân làng, xây dựng căn cứ vững chắc, địch đến sẵn sàng đánh trả.
Bước phát triển của phong trào đấu tranh cách mạng của xã thời kỳ này là lớp thanh niên cốt cán, con em đồng bào đân tộc tại địa phương sau một thời gian được rèn luyện, giác ngộ cách mạng đã trở thành những đảng viên đảng cộng sản, làm nòng cốt cho sự hình thành và phát triển của các tổ chức chi bộ đảng cộng sản đầu tiên tại các xã tiền thân của xã Đăk Kôi ngày nay. Đến năm 1962. Tại các xã Đăk Mong, Đăk Sót , Đăk Pia (sau này thuộc Đăk Kôi) đều hình thành các chi bộ Đảng. Xã Đăk Mong do đồng chí A Xoang làm bí thư, xã Đăk Sót do đồng chí A Tỵ làm bí thư, xã Đăk Hlo (sau là xã Đăk Pia) do đồng chí A Bring làm bí thư[6]
Để tạo thế đứng chân vững chắc, lãnh, chỉ đạo phong trào cách mạng tại địa phương, Đảng bộ H16 đã quyết định chọn vùng địa bàn Đăk Kôi để xây dựng căn cứ của Huyện ủy . Việc chọn địa bàn Đăk Kôi làm vị trí đứng chân để xây dựng thành vùng căn cứ hoạt động lâu dài bởi đây là vùng tương đối an toàn, xa các khu đồn địch, địa bàn ít bị càn quét, có nhiều rừng rậm và suối sâu, khí hậu khắc nghiệt về hướng đông bắc, có thể tổ chức lực lượng tấn công ra phía trước và lui về phòng ngự một cách an toàn.
Đầu năm 1962, cơ quan Huyện ủy1 chính thức chuyển từ làng Tu Ngó (xã Đăk Hlo, một trong các xã tiền thân của xã Đăk Kôi) đến đóng tại khu vực làng Kon Kloh và Kon Săk Bih (thuộc xã Đăk Mong, cũng là một trong các xã thuộc xã Đăk Kôi). Cũng từ đây, cơ quan Huyện ủy đứng chân tại địa bàn này trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ. Trong năm 1962, Huyện đội H16 được thành lập tại suối Đăk Kôi2 (gần làng Kon Rlong hiện nay), đồng chí Sinh làm Huyện đội trưởng, đồng chí A Bá làm Huyện đội phó. Cũng tại vị trí gần cơ quan Huyện đội (thường gọi là khu vực B10), Trường Đảng huyện cũng được thành lập và đứng chân. Đây là nơi Huyện ủy H16 tổ chức tập huấn, học các nghị quyết chỉ thị của huyện và tỉnh cho toàn Đảng bộ và nhân dân, các lực lượng vũ trang toàn huyện trong đó có tổ chức đảng, đảng viên và quân dân các xã thuộc địa bàn xã Đăk Kôi ngày nay.
Không chỉ là nơi đứng chân của Huyện ủy và các cơ quan huyện, Đăk Kôi với trữ lượng quặng sắt dồi dào trong lòng đất còn được Quân khu 5 lựa chọn để xây dựng xưởng quân giới. Tháng 02-1962, Quân khu 5 thành lập Phân xưởng luyện gang lấy phiên hiệu là C21 ( sau đổi thành C13) trực thuộc Ban Quân giới phòng hậu cần Quân khu[7].. Phân xưởng đóng gần làng Kon Treang, xã Đăk Mong, thuộc xã Đăk Kôi ngay nay..
Xưởng luyện gang lúc đầu có 4 người đều là công nhân có học về luyện kim ở miền Bắc vào gồm các đồng chí: Phan Hồng Liên (tức Phan Văn Trọng), Lâm Em (bí danh là Đồng), Bùi Tre, Nguyễn Sáng do đồng chí Phan Văn Trọng phụ trách. Sau đó, xưởng tuyển thêm một số anh chị em là người dân tộc thiểu số tại chỗ gồm: Y Khê ( làng Kon Bé xã Đăk Y Ni), Y Thi ở làng Kon Kđó, U Kloh ở làng Kon Treang, A Hre ở làng Kon Rgoh ( thuộc xã Đăk Mong) và Y Bắc, Y Nam, Y Hồng, A Nổi ở làng Wang Tó ( nay thuộc xã Đăk Ui), quân số nâng lên 16 người. Theo phân công, các nhân công người dân tộc thiểu số tại chỗ chủ yếu lo việc nấu ăn, làm rẫy, mang vác, đào quặng, đốt than... những công nhân lò cao từ ngoài Bắc vào làm nhiệm vụ xây lò, đốt than, sắm bễ thụt gió để sản xuất than bằng phương pháp rất thủ công. Máy móc thiết bị chưa có gì ngoài máy thổi hơi “thụt thịt” tự gò bằng tôn lợp nhà, một vỏ thùng phuy xăng để làm lò nấu và một ít dụng cụ thủ công, bễ thụt bằng tay để cấp gió. Xưởng luyện gang có nhiệm vụ khai thác quặng sắt luyện gang cung cấp cho các xưởng đúc vỏ lựu đạn, mìn. Đây là cơ sở luyện gang được xây dựng đầu tiên ở Quân khu 53.
Năm 1964, theo yêu cầu của Quân khu, Bộ Quốc phòng bổ sung cán bộ và tổ chức học tập cách luyện gang thủ công bán cơ khí quy mô nhỏ. Tháng 4-1964, số cán bộ nói trên về xưởng bắt tay vào xây dựng hệ thống lò cao, đến tháng 8-1964, hoàn thành công trình và luyện thử. Đến đầu năm 1966, kết quả luyện gang thành công. Lò luyện gang chạy tốt, mỗi lần ra gang được 3-4 kg, mỗi đêm được khoảng 20kg, cả đợt 10 ngày thu được 200kg. Sản xuất ổn định, gang tốt và ngày càng nhiều hơn, đồng chí Hồ Hoành làm một mẫu lanh gô 10x20x4cm có in chữ QGPMNVN kính tặng. Mẫu lanh gô được gửi ra Bắc, Quân khu 5 và là một trong những hiện vật tặng đoàn đại biểu Cu Ba sang thăm Việt Nam. Gang của xưởng C13 qua phân tích, xác định là gang xám loại 2, thích hợp làm vỏ lựu đạn, mìn. Quân số xưởng lúc này lên đến 41 người. Đồng chí Hồ Hoành làm xưởng trưởng, đồng chí Nguyễn Mạnh Thuần làm xưởng phó.
Tại đại hội mừng công của Phòng hậu cần Quân khu 5 năm 1966, Phân xưởng luyện gang (C13) được tuyên dương là ngọn cờ đầu các xưởng. Xưởng còn được tặng Huân chương chiến công giải phóng hạng ba. Đồng chí Thuần cũng được tặng Huân chương chiến công giải phóng hạng ba[8].
Sau năm 1966, theo yêu cầu nhiệm vụ, Xưởng quân giới được chuyển về vùng căn cứ H29, đến giữa năm 1968, C13 sáp nhập với C11,C14, bộ phận C37 của Sư đoàn 3 thành Xưởng quân giới C36.
Sự ra đời và hoạt động trong một thời gian của Xưởng quân giới (C13) tại vùng địa bàn Đăk Kôi đã ghi một dấu ấn lịch sử quan trọng. Đây là một xưởng luyện gang đầu tiên của Quân khu 5 trên vùng đất Tây Nguyên và cũng là một trong những cơ sở sản xuất vũ khí đầu tiên của Quân khu 5 trong những năm đầu thập niên 60 ( thế kỷ XX) chống Mỹ cứu nước. Đặc biệt, Phân xưởng luyện gang này đã cho ra những mảnh, mẫu gang đầu tiên để đáp ứng nhu cầu thực tế lúc bấy giờ khi vấn đề vũ khí rất thiếu thốn ở chiến trường Khu 5 nói chung và tỉnh Kon Tum nói riêng. Những mẻ gang được sản xuất tại một vùng núi được cho là thiếu thốn về cơ sở vật chất, về kỹ thuật, con người và lại nằm trong vùng địch, nhưng với ý chí, lòng quả cảm, tính sáng tạo và đặc biệt hơn nữa đó là tinh thần tự lực, tự cường của cán bộ, chiến sỹ nhân dân trong vùng H16 ( hai xã Đăk Kôi và Đăk Ui) đã đem lại một kỳ tích mà chắc có lẽ không một quốc gia nào trên thế giới có được[9]. Xưởng luyện gang đã góp phần quan trọng trong việc sản xuất vũ khí cung cấp cho quân và dân H16 nói riêng, tỉnh Kon Tum nói chung chiến đấu và chiến thắng kẻ thù. Đến năm 2017, Di tích lịch sử Phân xưởng luyện gang C13 - Quân khu 5 trên địa bàn xã Đăk Kôi được UBND tỉnh Kon Tum xếp hạng di tích cấp tỉnh[10].
Với địa thế của một vùng căn cứ địa, nơi có căn cứ Huyện ủy, các cơ quan huyện, xưởng quân giới đứng chân, Đăk Kôi có được thuận lợi lớn là có sự lãnh chỉ đạo trực tiếp của Huyện ủy, và các cơ quan chức năng, nhờ đó phong trào cách mạng kháng chiến ở Đăk Kôi đã nhanh chóng bắt mạch hòa nhịp với phong trào cách mạng kháng chiến chung toàn tỉnh. Vượt qua những khó khăn thử thách, truyền thống đoàn kết dân tộc, truyền thống yêu nước và cách mạng của nhân dân các dân tộc ở Đăk Kôi được xây dựng, củng cố vững chắc hơn, được phát huy cao độ, tạo thành sức mạnh to lớn, góp phần cùng nhân dân trong huyện, trong tỉnh và cả nước đập tan các âm mưu hành động địch qua các chiến lược chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ, Việt Nam hóa chiến tranh.
Đối với hoạt động quân sự, tuy là vùng căn cứ, hậu phương không trực tiếp tấn công địch nhưng Đăk Kôi đã có nhiều hoạt động tích cực để phối hợp với quân dân trong huyện tấn công địch ở phía trước và chống càn quét bảo vệ vùng căn cứ, bảo vệ cơ quan huyện ủy. Lực lượng du kích các xã thuộc Đăk Kôi luôn thường xuyên chủ động phối hợp với các xã ở phía trước và lực lượng huyện đội trực tiếp chống địch càn quét, bảo vệ nhân dân, bảo vệ xã, làng. Nổi bật nhất là trong giai đoạn 1961-1965, địch liên tục đánh phá vừng căn cứ, nhất là hai năm 1963-1964 máy bay địch rải chất độc dọc theo sông Đăk Kôi để hủy hoại hoa màu của nhân dân, lực lượng thám báo, biệt kích luôn tìm cách đột nhập vào vùng căn cứ để đánh lén, đánh úp cán bộ, cơ quan kho tàng ta...Trong điều kiện đó, lực lượng du kích trên địa bàn đã phối hợp với bộ đội huyện và du kích các xã bạn tổ chức chống càn ở khu vực rộng lớn gồm 47 làng thuộc các xã Đăk Pia, Đăk Y Ni, Đăk Mong (thuộc xã Đăk Kôi)1, Đăk Ui, Ngok Bơ Dềnh, Đăk Ruồng. Tiếp đó, trong suốt các giai đoạn chống chiến tranh cục bộ, chiến tranh Việt Nam hóa đầy ác liệt, vùng căn cứ xã Đăk Kôi thường xuyên bị địch càn quét bắn phá, không chỉ có lực lượng du kích mà tất cả nam nữ thanh niên, thiếu niên, già trẻ, gái trai trên địa bàn xã đều tham gia chống càn, bắn máy địch, giữ dân, giữ rẫy. Lực lượng dân quân du kích không chỉ tham gia chiến đấu chống càn mà còn tổ chức di dời dân sơ tán đến nơi an toàn, không để xảy ra thiệt hại lớn về người và của cải.
Từ ngày 27-12-1966 đến 25-01-1967, Mỹ-ngụy mở trận càn quét lớn với 8000 quân bao gồm nhiều loại binh chủng tấn công vào vùng căn cứ cách mạng H16. Địch bố trí cho 4 quân lính vây bắt 01 người dân ta. Cuộc chiến đấu giữa ta và địch diễn ra hết sức ác liệt. Ta tranh thủ kéo dân vào rừng không để ở chỗ trống, không cho địch gom dân về vùng ấp chiến lược, người dân rút vào vùng núi sâu để bảo toàn lực lượng, thực hiện bố phòng chống càn, già trẻ gái trai đều vót chông làm thò, du kích thôn bảo vệ làng, du kích xã bám theo địch, báo cho du kích thôn biết để bảo vệ dân. Trong cuộc chiến đấu đầy ác liệt đó, đã xuất hiện nhiều tấm gương anh hùng dũng cảm. Điển hình là chiến sỹ U Rê. U Rê là du kích làng Kon PLo xã Đăk Mong (nay thuộc Thôn 8 xã Đăk Kôi). Chịu ảnh hưởng bởi truyền thống cách mạng quê hương, từ khi gia nhập lực lượng du kích xã, U Rê tích cực tham sản xuất tại chỗ, và học tập rèn luyện kỹ thuật chiến đấu, vót chông, làm thò, bố phòng nhử đánh địch. Mỗi lần được cấp trên giao nhiệm vụ trực tiếp đánh địch là U Rê rất mừng, tham gia nhiệt tình, luôn thể hiện sự mưu trí, gan dạ dũng cảm. U Rê cùng đồng đội nhiều lần lập công khi tham gia đánh đồn địch phía trước và chống càn bảo vệ quê hương.
Mùa khô 1967, trong cuộc chiến đấu chống địch càn quét, giành dân bảo vệ vùng căn cứ, U Rê chỉ huy tổ du kích 04 chiến sỹ ( U Rê, U Thoan, U Đia, U Pốt) lợi dụng địa hình địa vật hiểm trở quen thuộc bám đánh một đại đội Mỹ càn vào khu vực giữa 02 làng Kon Plo và Kon Rơ Lơn ( xã Đăk Kôi), diệt tại chỗ 11 tên và làm bị thương nhiều tên khác. Địch hoang mang khiếp sợ rút chạy toán loạn, lui ra xa, sau đó dùng phi pháo tầm xã bắn dữ dội vào trận địa. U Thoan, người bạn chiến đấu của U Rê trong tổ du kích bị trúng đạn hy sinh làm cho U Rê và đồng đội càng thêm căm phẫn, quyết tâm bám trận địa chiến đấu tiêu diệt thật nhiều quân địch để trả thù cho đồng đội.
Sau đợt đầu thất bại, quân Mỹ tập trung lực lượng mở đợt tấn công mới. Chúng dùng phi pháo bắn phá quyết liệt vào trận địa của tổ du kích. U Rê cùng với U Đia, U Pốt chống trả quyết liệt với quân địch. Cuộc chiến mỗi lúc một ác liệt. Lửa đạn nghi nghút và cái nóng cháy bỏng của trời tháng 02 Tây Nguyên như muốn vắt kiệt sức các chiến sỹ. Song với tinh thần dũng cảm kiên trung, các anh quyết trụ bám đến cùng đánh địch. Trong lúc dập đám lửa cháy lan vào trận địa thì U Pốt bị trúng đạn hy sinh, U Rê bị thương nặng. Biết mình không thể thoát khỏi vòng vây kẻ thù và để bảo toàn lực lượng chiến đấu, U Rê đã nổ súng thu hút hỏa lực địch về phía mình để cho U Đia thoát khỏi vòng vây. Mặc dù bị địch bao vây, kêu gọi đầu hàng, U Rê vẫn kiên quyết chống trả. Còn một quả mìn duy nhất, U Rê ôm gọn vào lòng giả vờ chết chờ bọn địch kéo đến thật đông, lập tức anh giật nụ xòe cho mìn nổ, 7 tên Mỹ chết tại chỗ, một số tên bị thương, số còn lại bỏ chạy toán loạn. U Rê đã anh dũng hy sinh. Một hành động vô cùng gan dạ dũng cảm và anh hùng. Tính đến ngày hy sinh, trong cuộc đời hoạt động và chiến đấu của mình, U Rê vừa trực tiếp chỉ huy và tham gia chiến đấu với tổ du kích đã đánh 25 trận, tiêu diệt hàng chục tên địch. Riêng U Rê diệt 15 tên, bắn bị thương 21 tên, thu 1 súng và 500 viên đạn, tham gia vót 5000 cái chông, làm 90 cái thò, bố phòng và tham gia hoạt động đánh địch tất cả 8 chiến dịch lớn nhỏ[11].
Với thành tích cống hiến của bản thân, U Rê được tặng thưởng 1 Huân chương chiến công giải phóng hạng nhất, 01 Huân chương chiến công giải phóng hạng 3, 01 Bằng khen chiến sỹ diệt Mỹ cấp ưu tú. Ngày 6/11/1978, U Rê được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu cao quý” Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.
Để đánh bại trận càn qui mô lớn của địch, ngoài việc bố trí lực lượng tham gia cùng bộ đội huyện và du kích các xã Đăk Ui, Ngok Bơ Dềnh trực tiếp chống địch, du kích các xã trên địa bàn Đăk Kôi đã thực hiện nhiệm vụ bảo vệ căn cứ Huyện ủy. BanThường vụ H16 lúc bấy giờ gồm 5 đồng chí do đồng chí Trần Liêu ( Peo) làm bí thư, đồng chí Nguyễn Viên làm Phó Bí thư Thường trực, đồng chí Tháo làm phó bí thư phụ trách vùng địch, đồng chí A Tranh làm chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính huyện, đồng chí Lan làm chính trị viên huyện đội.[12]. Thời gian này, để ổn định việc chỉ đạo, hoạt động lâu dài, cơ quan Huyện ủy H16 dời về làng Kon Rgoh (thuộc xã Đăk Mong, nay thuộc xã Đăk Kôi), đóng chân tại núi Ngok Hnâng gần suối Tea Rchong. Tại đây, cơ quan Huyện ủy tổ chức cho xây dựng các hệ thống giao thông hào, hầm chữ A, dựng nhà làm việc cho đồng chí Bí thư để ổn định cho việc chỉ đạo chiến đấu. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Huyện ủy, quân dân các xã: Đăk Via, Đăk Hlo, Đăk Ganh, Đăk Mong (Đăk Kôi) đã góp sức cùng quân và dân trên địa bàn huyện đánh bại cuộc càn với qui mô lớn của địch. Kết quả ta đã tiêu diệt gần 200 tên địch2. Vùng căn cứ địa của H16 tại Đăk Kôi được bảo vệ vững chắc và trở thành trung tâm chỉ đạo mọi mặt phong trào kháng chiến của H16 và vùng phụ cận. Căn cứ Huyện ủy H16 trên địa bàn xã Đăk Kôi trở thành một chứng tích lịch sử, được xếp hạng là di tích lịch sử cấp tỉnh[13].
Cùng với tham gia chiến đấu, lực lượng du kích còn tích cực trực bắn máy bay địch bảo vệ căn cứ, bảo vệ hoa màu trên nương rẫy. Từ năm 1965-1975, phong trào bắn máy bay địch được Tỉnh ủy Kon Tum phát động khắp các địa phương. Vùng căn cứ của huyện nào cũng có lực lượng trực chiến sẵn sàng bắn máy bay địch. Trên địa bàn 4 xã thuộc Đăk Kôi, xã nào cũng thành lập các tổ thường trực săn bắn máy bay, mỗi người dân đều là chiến sỹ sẵn sàng đánh và tiêu diệt địch khi chúng đến. Để ngăn chặn và bắn hạ nhiều máy bay địch, lực lượng dân quân, du kích đã có sáng kiến là phải đi lên tận các ngọn núi cao phục săn để hạ được máy bay Mỹ. Tại xã Đăk Ganh, A Tum là một thiếu niên gan dạn dũng cảm, không chỉ trong săn bắn máy bay địch mà cả trong truy bắt bọn phản động chạy trốn1. Năm 1967, khi trực săn máy bay địch, A Tum đã giương súng bộ binh hạ một máy bay Mỹ trong lúc nó đang xà xuống để rải chất độc hóa học lên rẫy của gia đình và bà con dân làng2.
Mặt khác, lực lượng du kích cùng với nhân dân thường xuyên truy lùng bắt bọn thám báo, gián điệp xâm nhập và trà trộn vào vùng căn cứ..Xuyên suốt thời kỳ kháng chiến chống Mỹ-ngụy, bọn thám báo gián điệp luôn tìm cách và nhiều lần xâm nhập vào vùng căn cứ của huyện H16 trên địa bàn các xã thuộc Đăk Kôi nhưng tất cả đều bị ta kịp thời phát hiện, ngăn chặn, điều tra truy bắt và xử tội. Trong đợt cao điểm trấn áp bọn phản cách mạng năm 1969-1970, du kích các xã Đăk Mong, Đăk Ganh đã phát huy tinh thần dũng cảm, mưu trí, giữ vững phẩm chất cách mạng, theo dõi và truy bắt đến cùng một số tên phản động thâm nhập vào quần chúng đưa chúng ra xét và xử tội trước nhân dân.
Trong chiến dịch Đăk Tô –Tân Cảnh năm 1972, Ban Thường vụ Huyện ủy H16 đã phân công đồng chí Y Vêng huy động quân dân chính các xã Đăk Ui, Đăk Mong, Đăk Pia cùng lực lượng H9 đi thu gom vận động và tuyên truyền nhân dân vùng giải phóng để đưa dân vào rừng phía đông đường 14. Số dân không chịu vào rừng ở lại quanh nhà thờ Kon Hơ Ring với hy vọng máy bay địch đến chở về Kon Tum, nhưng vào một đêm, địch cho máy bay đến thả bom giết chết hàng trăm người. Đây là sự kiện tố cáo tội ác dã man của kẻ địch. Những người dân vào rừng được dân vùng căn cứ trong đó có xã Đăk Kôi cưu mang đùm bọc, giúp đỡ tận tình chu đáo.
Một đóng góp quan trọng đáng kể của nhân dân vùng căn cứ xã Đăk Kôi là phong trào quần chúng đi dân công phục vụ tiền tuyến. Xuyên suốt từ năm 1960-1975, lực lượng quần chúng các xã vùng căn cứ Đăk Kôi đều có mặt trong các đoàn, tổ dân công phục vụ tiền tuyến. Mỗi năm đều có hàng trăm người đi dân công. Những trận đánh lớn của quân và dân trên địa bàn H16 nói riêng, tỉnh Kon Tum nói chung đều có lực lượng dân công của các xã trên địa bàn Đăk Kôi. Họ, những người dân không phân biệt tuổi tác, già trẻ, gái, trai tùy theo khả năng và yêu cầu nhiệm vụ công việc của cách mạng đã không quản ngại khó khăn gian khổ, ngày đêm đi dân công cõng gạo, vận chuyển lương thực, đạn dược, tải thương phục vụ chiến đấu....trên các tuyến hành lang vùng căn cứ, lực lượng dân công các xã thuộc Đăk Kôi luôn có mặt. Đóng góp của lực lượng dân công ước tính lên đến hằng trăm ngàn ngày công.
Cùng với đóng góp về công sức, nhân dân các xã thuộc Đăk Kôi luôn tích cực hưởng ứng và thực hiện phong trào động viên đóng góp nuôi quân. Mỗi người dân vùng căn cứ Đăk Kôi luôn nhận thức được trách nhiệm to lớn của mình trong việc đóng góp nuôi quân, bởi các xã thuộc Đăk Kôi là vùng hậu phương căn cứ có điều kiện hơn các địa phương khác trong tổ chức sản xuất. Tuy vậy do là vùng căn cứ, nơi đứng chân của cơ quan Huyện ủy nên địch luôn thường xuyên bắn phá và oanh tạc, vì vậy sản xuất luôn gặp khó khăn. Mặc dù vậy, với ý thức trách nhiệm của mình nhân dân các xã thuộc Đăk Kôi vẫn tích cực đẩy mạnh sản xuất, khắc phục mọi khó khăn, trồng nhiều hoa màu, cây lương thực các loại để đóng góp nuôi quân. Cảm động nhất là nhiều hộ gia đình đã nhịn bớt khẩu phần bắp của mình để cứu đói bộ đội. Tại Đại hội thi đua công nông bình lần thứ 5 (ngày 01-7-1970) của H16, xã Đăk Hlo được tuyên dương là đơn vị dẫn đầu trong phong trào động viên đóng góp. Xã Đăk Via cũng được nêu gương là đơn vị khá nhất trong đóng góp nuôi quân, năm 1969, bình quân mỗi lao động đóng góp 98 kg gạo, bình quân đầu người trong xã 40 kg gạo.
Không thể thống kê đầy đủ và kể hết những chiến công, chiến tích và đóng góp của quân dân các xã thuộc xã Đăk Kôi trong kháng chiến chống Mỹ-Ngụy, nhưng mỗi chiến công, chiến tích hào hùng, những chiến thắng to lớn, vang dội mà quân và dân các dân tộc trên địa bàn xã đạt được đã góp phần cùng quân và dân các dân tộc trong tỉnh và cả nước đưa sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng miền Nam đi đến thắng lợi hoàn toàn.
Đi cùng với những chiến công trên lĩnh vực quân sự, các mặt công tác kháng chiến cũng có những bước tiến bộ vượt bậc. Tăng gia sản xuất trở thành một mặt trận quan trọng, đẩy mạnh và phát triển sản xuất được xem là nhiệm vụ trọng tâm để xây dựng căn cứ kháng chiến, nuôi quân, đánh giặc. Với ưu thế của một vùng căn cứ, các xã thuộc địa bàn Đăk Kôi luôn là những đơn vị đi đầu trong phong trào sản xuất. Nhờ truyền thống đoàn kết cộng đồng làng, cộng đồng dân tộc, việc làm ăn tập thể là nguyện vọng của quần chúng phù hợp với chủ trương đúng đắn của Đảng ở vùng căn cứ miền núi. Ngay từ thời kỳ đầu chống Mỹ-ngụy, chủ trương làm ăn tập thể đã được các tổ chức cơ sở đảng trên địa bàn phát động, nhân dân tích cực hưởng ứng. Từ phong trào vòng công hợp tác tương trợ lao động với những tổ vòng công từng vụ từng việc qua từng giai đoạn đã được kiện toàn củng cố phát triển thành phong trào hợp tác sản xuất rộng rãi. Mỗi xã đều có gần 10 tổ hợp tác sản xuất. Các tổ hợp tác đã thực hiện các biện pháp tự quản biết bố trí nhân lực hợp lý phù hợp với khả năng lao động của từng người do đó đã khuyến khích được khả năng lao động của mọi người, năng lực sản xuất được phát triển. Các tổ đều đóng vai trò nòng cốt trong động viên sức người, sức của cho kháng chiến. Suốt thời kỳ kháng chiến chống Mỹ -ngụy, trên địa bàn các xã của Đăk Kôi đã xuất hiện hàng trăm rẫy lúa, rẫy mỳ kháng chiến. Người dân được tổ chức, vận động tham gia vào các tổ, đội sản xuất, đã hăng hái tích cực vỡ ruộng, làm nà, làm rẫy, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, trồng nhiều hoa màu, lúa rẫy, lúa nước, mỳ (sắn) , cây chuối nước, ...để chống đói, cứu đói. Mặc dù địch thường xuyên dùng bom đạn, máy bay các loại oanh tạc, thường xuyên bắn phá khắp núi rừng, nương rẫy, nhưng với khẩu hiệu: "địch phá một, ta làm gấp mười", đồng bào vừa chiến đấu vừa sản xuất. Việc chiến đấu và sản xuất trở thành cuộc sống bình thường của quần chúng. Phong trào "tiếng hát át tiếng bom" được nhân dân tích cực hưởng ứng và diễn ra sôi nổi khắp vùng căn cứ. Nhờ đó, sản xuất không bị ngưng trệ mà vẫn phát triển, không những đảm bảo tối thiểu nhu cầu về đời sống nhân dân mà còn đóng góp một khối lượng khá lớn lương thực và thực phẩm các loại cho cách mạng. Năm 1970, bình quân mỗi lao động vùng căn cứ các xã thuộc Đăk Kôi nói riêng và H16 nói chung đóng góp cho cách mạng 18kg lúa giống, 5600 bụi mỳ, 12 lon bắp, theo đó, năm 1971 tỷ lệ tăng lên tương ứng là: 20 kg lúa giống, 5700 bụi mỳ, 12 lon bắp1.
Cũng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ-Ngụy, chính quyền nhân dân2, các đoàn thể thanh niên, phụ nữ ... ra đời đã phát huy hết khả năng trong lãnh đạo, quản lý, vận động, tập hợp quần chúng nhân dân thực hiện các nhiệm vụ cách mạng của Đảng. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các tổ chức đảng tại các xã, sự hưởng ứng và tham gia tích cực của nhân dân, các hoạt động y tế, giáo dục, văn hóa trong vùng đồng bào các dân tộc, nhất là vùng căn cứ có nhiều tiến bộ vượt bậc.
Công tác vệ sinh phòng bệnh luôn được quan tâm thực hiện và được các tổ chức đảng, chính quyền đoàn thể ở mỗi địa phương phát động thành một phong trào rộng rãi, nhân dân tích cực hưởng ứng và thực hiện. Trong hoàn cảnh chiến tranh, điều kiện rừng núi, việc tổ chức phát động và thực hiện phong trào vệ sinh phòng bệnh ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số từ trước đến nay chưa quen thực hiện là một công việc hết sức mới mẻ và đầy nỗ lực của các chi bộ đảng tại địa phương, đồng thời cũng là một bước chuyển đổi mạnh mẽ trong nhận thức tư tưởng của người dân bản địa. Tuy vậy với chủ trương cách mạng của Đảng, sự kiên trì giáo dục của tổ chức đảng mà trực tiếp là những cán bộ đảng viên gương mẫu đi đầu trong hướng dẫn và thực hiện, phong trào vệ sinh phòng bệnh ở các xã đã đem lại hiệu quả tích cực. Người dân đã có ý thức tự giác trong công tác vệ sinh, thực hiện ăn ở sạch sẽ, biết dùng bát, đũa trong ăn uống, uống nước đun chín , đào hố xí xa nhà ở, bỏ dần thói quen ăn bốc, uống nước suối, khi ốm đau đã biết dùng các thứ thuốc chữa bệnh thay cho cúng bái. Trong giai đoạn 1969-1972, làng Tu Ngó xã Đăk Hlo được tuyên dương về thành tích đã chữa khỏi hoàn toàn bệnh ghẻ cóc1. Xã Đăk Ganh được tuyên dương là đơn vị dẫn đầu về phong trào vệ sinh phòng bệnh trong toàn huyện H162. Cùng với việc thực hiện vệ sinh phòng bệnh, nhân dân đã quen dần với việc dùng thuốc chữa bệnh khi đau ốm. Đáng chú ý là việc dùng nguồn dược liệu có sẵn tại địa phương để làm thuốc nam chữa bệnh cũng được phổ biến nhân rộng thành phong trào trong nhân dân. Được sự quan tâm của các cấp và ngành y tế huyện, mỗi làng đều bố trí ít nhất 01 vệ sinh viên (có làng đông đến 2-3 người) để phụ trách hướng dẫn việc thực hiện nhiệm vụ phòng và chữa bệnh..
Công tác giáo dục là một chủ trương lớn của Đảng luôn được các chi bộ đảng của các xã quan tâm. Do đặc điểm và điều kiện hoàn cảnh của vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đa phần người dân đều không biết chữ. Nhờ có phong trào học chữ được phát động và tổ chức thực hiện mạnh mẽ những năm 1956-1960, nên người dân đã có được những thay đổi trong tư duy nhận thức, quan tâm đến việc học chữ. Các chi bộ đảng lãnh đạo tại các xã cũng xác định rõ chủ trương và quyết tâm thanh toán nạn mù chữ. Việc tổ chức duy trì phong trào học chữ ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số các xã thuộc địa bàn Đăk Kôi trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ là hết sức khó khăn. Xác định đây là yêu cầu nhiệm vụ bắt buộc, các chi bộ đảng ở các xã rất quan tâm và tập trung sức lãnh đạo. Tầng lớp nam nữ thanh niên được quan tâm lựa chọn để làm nòng cốt. Với lòng yêu nước, tinh thần ham học, muốn tiến bộ, công tác giáo dục được nam nữ thanh niên và nhân dân tích cực hưởng ứng. Việc dạy và học chữ được thực hiện từ trong tổ chức chi bộ đảng đến quần chúng nhân dân. Phương châm thực hiện là người biết nhiều dạy người biết ít, người biết chữ dạy cho người chưa biết, tùy điều kiện và hoàn cảnh mà áp dụng các phương thức và hình thức học tập khác nhau. Đến năm 1969, hầu hết cán bộ đảng viên là người dân tộc bản địa ở xã và thôn đều biết chữ, nhiều nam nữ thanh niên rất chịu khó học tập đã biết được chữ nên rất ham thích và tham gia phong trào cách mạng rất nhiệt tình. Nhiều người được chi bộ đảng quan tâm đào tạo, bồi dưỡng để xây dựng thành cán bộ cốt cán của xã, của huyện.
Trong lĩnh vực văn hóa, người dân đã từng bước bỏ dần các hủ tục, nhất là các tập tục có hại cho sản xuất. Những nét đẹp của văn hóa truyền thống luôn được gìn giữ và phát huy. Hằng năm các lễ hội văn hóa vẫn được duy trì và tổ chức theo đúng nghi lễ. Phần hội có thêm nét mới. Ngoài nội dung, lời ca truyền thống còn có điệu múa, lời ca tiếng hát ca ngợi Đảng, ca ngợi Bác Hồ, ca ngợi quê hương đất nước Việt Nam. Ở mỗi xã đều thành lập các tổ, đội văn nghệ thường xuyên biểu diễn để phục vụ nhân dân. Đăk Ganh - một trong 4 xã thuộc Đăk Kôi là đơn vị dẫn đầu trong phong trào văn hóa văn nghệ trên địa bàn H16. Đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân vùng căn cứ các xã trên địa bàn Đăk Kôi thời kỳ chống Mỹ-ngụy luôn phong phú, vui tươi, sống động, có tác dụng to lớn trong việc cổ vũ động viên tinh thần quân dân chiến sỹ dồn sức xông lên đánh bại mọi âm mưu chiến lược chiến tranh của kẻ địch.
Là hạt nhân nòng cốt trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo mọi mặt phong trào kháng chiến tại địa phương, các tổ chức đảng tại địa bàn 4 xã thuộc Đăk Kôi ra đời từ những năm đầu thời kỳ kháng chiến chống Mỹ-Ngụy1 qua các giai đoạn cách mạng không ngừng được kiện toàn, củng cố. Từ những chi bộ đảng đầu tiên với số lượng đảng viên ít ỏi chỉ vài người đã tăng dần lên hàng chục người. Xuyên suốt thời kỳ kháng chiến chống Mỹ-ngụy, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Huyện ủy H16, các chi bộ đã phát huy được vai trò vị trí trong lãnh đạo phong trào cách mạng ở mỗi địa phương. Mỗi chi bộ đều làm tốt công tác lãnh đạo tư tưởng, liên tục động viên chính trị, phát động tư tưởng quần chúng để nâng cao giác ngộ chính trị, tư tưởng, đường lối, phương hướng, phương châm, chính sách nhiệm vụ chính trị trọng tâm của Đảng qua từng giai đoạn, thời kỳ cách mạng. Các chi bộ cũng đã phổ biến, quán triệt nghị quyết của Trung ương, Tỉnh ủy, huyện ủy cho đảng viên, dân quân du kích và quần chúng, làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao tinh thần tự hào, tự tôn về một cộng đồng dân tộc Việt Nam anh hùng, nâng cao giác ngộ giai cấp, dân tộc, quan điểm quần chúng cách mạng, ý chí chiến đấu, chống hữu khuynh, cá nhân chủ nghĩa, rèn luyện đạo đức, tác phong sâu sát,....Việc tổ chức chỉnh huấn, phát động chính trị, tư tưởng cho đảng viên, cán bộ, dân quân du kích và quần chúng luôn gắn với việc nâng cao chất lượng đảng viên và xây dựng chi bộ 4 tốt, đảng viên 4 tốt.
Công tác tổ chức liên tục được củng cố. Mỗi chi bộ đảng ở mỗi xã đều nắm vững được các quy định của Đảng về vai trò chức trách nhiệm vụ của tổ chức đảng ở cơ sở, luôn giữ vững và phát huy nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng, nghiên cứu vận dụng thực hiện các nghị quyết của các cấp ủy đảng một cách sáng tạo phù hợp vơi tình hình thực tiễn tại địa phương. Cụ thể về xây dựng lấy nâng cao chất lượng đảng viên với xây dựng chi bộ 4 tốt, đảng viên 4 tốt, lấy nâng cao chất lượng năng lực công tác lãnh đạo, nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật, gắn chặt hành động thực tế, giáo dục tư tưởng làm gốc. Đây luôn là chủ đề được thực hiện qua sinh hoạt, hội nghị định kỳ của các tổ chức đảng. Trong bình xét và bình chọn đảng viên 4 tốt lấy nhiệm vụ trung tâm và tiêu chuẩn đảng viên 4 tốt để liên hệ bình chọn.
Cùng với thực hiện các nhiệm vụ về công tác chính trị tư tưởng và kiện toàn tổ chức, các chi bộ cũng đã có nhiều nỗ lực cố gắng trong thực hiện công tác kiểm tra đối với cán bộ đảng viên do chi bộ mình quản lý, chăm lo đến công tác bồi dưỡng kết nạp đảng viên mới, lựa chọn cán bộ để quy hoạch đào tạo tạo nguồn cán bộ cho địa phương. Nhờ thực hiện các nội dung trên, các chi bộ đảng ở các xã luôn vững mạnh cả về chính trị tư tưởng và tổ chức, đảm bảo được vai trò lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp cách mạng chung của dân tộc, của đất nước tại địa phương, cơ sở.
Từ hình thức chính quyền sơ khai là các ủy ban tự quản ở xã, làng, đến cuối năm 19681, chính quyền cách mạng trong thời kỳ chống Mỹ-Ngụy chính thức ra đời với tên gọi là Ủy ban hành chính kháng chiến. Cũng từ sau phong trào đồng khởi năm 1960, các đoàn thể thanh niên, phụ nữ ở các xã cũng được thành lập. Dưới sự lãnh đạo của Huyện ủy H16, trực tiếp là chi bộ đảng ở các xã, bộ máy chính quyền và các tổ chức đoàn thể luôn được kiện toàn về tổ chức. Chính quyền bước đầu đã phát huy được chức năng và có uy tín tốt trong quần chúng. Các tổ chức đoàn thể qua từng thời kỳ và giai đoạn cách mạng đã nhận thức đầy đủ hơn về vị trí, vai trò của tổ chức mình. Tất cả đều tập trung phát huy vai trò, chức năng thực hiện nhiệm vụ chính trị trọng tâm của Đảng là đẩy mạnh kháng chiến, đấu tranh đến cùng để giành độc lập dân tộc.
Không thể thống kê đầy đủ và kể hết những chiến công, chiến tích và đóng góp của quân dân các xã thuộc xã Đăk Kôi trong kháng chiến chống Mỹ-Ngụy. Nhưng điều khẳng định được là những chiến công, thành tích của nhân dân các xã trên địa bàn các xã thuộc xã Đăk Kôi ngày nay đạt được trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước có tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn. Những chiến công đó, những thành tích đó đã góp phần cùng quân và dân các dân tộc trong tỉnh và cả nước đánh thắng hoàn toàn đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng quê hương Kon Tum, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng miền Nam đi đến thắng lợi hoàn toàn.
Nhìn lại chặng đường lịch sử truyền thống yêu nước đấu tranh cách mạng từ thời Pháp thuộc đến năm 1975, nhân dân và Đảng bộ xã Đăk Kôi đã không quản ngại hy sinh gian khổ, cùng nhau đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù để giải phóng quê hương, góp phần cùng nhân dân trong huyện, trong tỉnh và cả nước giành độc lập tự do.
Trong những năm sống dưới ách thống trị của thực dân, đế quốc, cũng như nhân dân trong huyện, trong tỉnh và cả nước, nhân dân các dân tộc ở Đăk Kôi thường xuyên bị áp bức bốc lột. Thực dân Pháp thường xuyên bắt dân đi xâu, phu phen, làm đường, phục dịch... đời sống của người dân đã khổ vì kinh tế thấp kém, vì thiên tai, mất mùa lại còn đau khổ cực nhọc lầm than gấp nhiều lần do sự bóc lột, áp bức dã man của của Thực dân Pháp. Không hề khuất phục, nhân dân Xê Đăng ở Đăk Kôi liên tục nổi dậy. Tiêu biểu nhất là Phong trào “ Nước Xu”, gây cho địch nhiều thiệt hại, qua đó, biểu hiện một tinh thần đấu tranh bất khuất kiên cường, thể hiện tình yêu quê hương thôn làng , núi rừng, dân tộc. Chính truyền thống đó là nền tảng để nhân dân các dân tộc ở Đăk Kôi dễ đến với Đảng và theo Đảng tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng giành độc lập dân tộc.
Trong cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp, tuy là vùng địa bàn xa vùng địch, ít chịu nhiều ảnh hưởng của thời cuộc nhưng thông qua hoạt động gây dựng cơ sở cách mạng kháng chiến, nhân dân các đân tộc ở Đăk Kôi bắt đầu biết đến Đảng, biết đến cách mạng. Cũng trong giai đoạn này, cơ sở kháng chiến trong nhân dân từng bước được hình thành và dân dần phát triển thành phong trào cách mạng rộng rãi khắp các vùng trong xã. Đây cũng là giai đoạn người dân Xê Đăng ở vùng Đăk Kôi có sự chuyển biến mạnh mẽ về mặt nhận thức, lựa chọn và đi theo con đường cách mạng do Đảng và Bác Hồ chỉ dẫn.
Bước qua cuộc kháng chiến chống Mỹ-ngụy, phong trào cách mạng của Đảng bộ nhân dân các dân tộc ở Đăk Kôi càng phát triển hơn, cơ sở cách mạng kháng chiến được hình thành ngày càng nhiều, nhận thức của người dân về Đảng, về Bác Hồ, về cách mạng ngày càng rõ ràng hơn, khí thế cách mạng ngày càng dâng cao, tổ chức Đảng được hình thành, lực lượng vũ trang, bán vũ trang được xây dựng và ngày càng phát triển, phong trào nhân dân du kích chiến tranh phát triển rộng khắp, đưa Đăk Kôi sớm trở thành vùng căn cứ hậu phương vững chắc của huyện 16 và tỉnh Kon Tum.
Mặc dù Mỹ-ngụy với âm mưu và thủ đoạn tàn bạo luôn tìm mọi cách đánh phát tiêu diệt vùng căn cứ cách mạng Đăk Kôi, chúng thường xuyên dùng phi pháo bắn phá, rải chất độc hóa học hủy diệt hoa màu, sự sống của người dân, mở các cuộc càn quét bắt bớ gom dân lập ấp chiến lược, “tát nước bắt cá” để tách người dân với Đảng, với cán bộ cách mạng, nhưng vẫn không ngăn chặn và dập tăt được ngọn lửa cách mạng luôn bùng cháy ở vùng căn cứ cách mạng kháng chiến Đăk Kôi. Từ trong cuộc chiến đầy khó khăn gian khổ, ác liệt, truyền thống đoàn kết, yêu nước cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Đăk Kôi được xây dựng vững chắc hơn, tạo nên sức mạnh không gì lay chuyển nổi, đưa Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Đăk Kôi vượt qua muôn vàn gian khổ, thử thách thách, quyết tâm chiến đấu góp phần cùng quân dân trong huyện, trong tỉnh và cả nước liên tục giành thắng lợi đến thắng lợi khác và đi đến thắng lợi cuối cùng giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước. Từ trong phong trào kháng chiến cách mạng đó, sản xuất nông nghiệp được coi là nhiệm vụ trọng tâm trong công cuộc xây dựng căn cứ địa cách mạng kháng chiến.. Phong trào hợp tác tương trợ lao động, vỡ ruộng , làm nà, phong trào tăng gia sản xuất chống đói được phát động và thực hiện rộng rãi. Mặc dù Mỹ-ngụy dùng phi pháo bắn phá rải chất độc khắp núi rừng, nương rẫy nhưng sản xuất vẫn không đình trệ. Với tinh thần vì độc lập tự do, trên cơ sở phong trào sản xuất ngày một phát triển nhân dân Đăk Kôi không chỉ tự túc đảm bảo nguồn lực thực hậu cần tại chỗ mà còn đóng góp một khối lượng lớn lương thực và thực phấm các loại cho kháng chiến. Vai trò của tổ chức Đảng, chính quyền, các đoàn thể thanh niên, phụ nữ được phát huy hết khả năng trong một hệ thống chính trị mang tính đặc thù ở vùng căn cứ, tất cả chung một ngọn cờ, một mặt trận thống nhất đấu tranh chống Mỹ-ngụy. Lực lượng vũ trang, dân quân, du kích giữ vị trí quan trọng trong cuộc chiến đấu bảo vệ quê hương căn cứ địa cách mạng., tiêu hao sinh lực địch và phục vụ chiến trường. Trong vùng căn cứ địa kháng chiến đó, đời sống văn hóa tinh thần có bước phát triển với nhiều nét tiến bộ mới, nhiều hủ tục lạc hậu được bỏ dần, phong trào giáo dục được thực hiện trong nhân dân, nhiều con em đồng bào dân tộc bắt đầu biết và làm quen với chữ viết phổ thông, tiếng Việt, công tác y tế phát triển nhất là việc thực hiện vệ sinh phòng bệnh, làm thuốc nam chữa bệnh...Đăk Kôi thật sự trở thành vùng căn cứ địa kháng chiến vững chắc của H16 và tỉnh Kon Tum.
Với thành tích đóng góp và đạt được trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, xã Đăk Kôi được Nhà nước tuyên dương đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đó là phần thưởng cao qúi, danh hiệu vẻ vang mà Đảng và Nhà nước phong tặng cho xã Đăk Kôi. Đó cũng là sự ghi nhận thành tích, sự đóng góp và cống hiến của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc xã Đăk Kôi đối với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước.
Những thành tích đạt được trong công cuộc đấu tranh giành độc lập tự do là tiền đề quan trọng để Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Đăk Kôi vững vàng bước vào thời kỳ cách mạng mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
[1] Dẫn theo sách: Lịch sử Đảng bộ huyện Đăk Hà, tập I, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2004, trang 41. [2] Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã mở ra một bước ngoặc lịch sử quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn dân tộc Việt Nam đã đứng lên làm cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đánh đổ thực dân, phong kiến giành độc lập. Tại Tỉnh Kon Tum, Tháng 9-1930, chi bộ đảng cộng sản đầu tiên (Chi bộ binh) được thành lập tại thị xã ngay trong nhà ngục Kon Tum của thực dân Pháp. Tiếp sau đó, năm 1931, thành lập thêm một chi bộ mới lấy tên là chi bộ đường phố. Nhờ có sự ra đời sớm của các chi bộ đảng cộng sản ở tỉnh Kon Tum năm 1930, ánh sáng cách mạng của Đảng đã nhanh chóng lan rộng khắp địa bàn tỉnh . 4` Bộ Quốc Phòng: Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975- Những sự kiện quân sự. NXB QĐND, hà Nội, 1988, tr 24. 5. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 15, 1954, Nxb CTQG, H, 2001, tr 225 1 Báo cáo tổng kết phong trào thi đua của huyện 16 tại đại hội công nông binh tỉnh lần thứ 4 tháng 2 năm 1969- tài liệu lưu tại kho lưu trữ Văn phòng Tỉnh ủy Kon Tum 2 BCH Đảng bộ tỉnh Kon Tum-Lịch sử Đảng bộ tỉnh Kon Tum tập I ( 1930-1975), xuất bản lần thứ hai, có chỉnh sửa, bổ sung, NXB Đà Nẵng-2006, trang 246. [5] Lời kể của ông A BLiên tại Hội thảo Lịch sử Đảng bộ xã Đăk Kôi lần 2, ngày 17/7/2018 1 Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh Kon Tum lần thứ I, tháng 3-1960- Dẫn theo sách Lịch sử Đảng bộ tỉnh Kon Tum tập I, 1930-1945 (Xuất bản lần thứ hai, có bổ sung, chỉnh sửa) Nxb Đà Nẵng, tháng 12-2006. 1 Xem thêm Lịch sử Đảng bộ tỉnh Kon Tum, sdd, trang 13. 2 Theo lời kể của đ/c A He, nguyên bí thư H16 giai đoạn 1968-1975-Bảo tàng tổng hợp tỉnh Kon Tum-Lý lịch di tích lịch sử cách mạng: Căn cứ Huyện ủy H16 thuộc xã Đăk Kôi huyện Kon Rẫy tỉnh Kon Tum [6] Ý kiến của đồng chí Đinh Bông tại Hội thảo sách Lịch sử Đảng bộ xã Đăk Kôi lần thứ 2, ngày 17/7/2018. Cũng theo đồng chí Đinh Bông, đây là những cán bộ đảng viên đầu tiên của xã Đăk Kôi ngày nay. Tuy nhiên, việc khẳng định những cán bộ này có phải là đầu tiên hay không cần được bổ sung thêm nhiều ý kiến và nguồn tư liệu để làm rõ thêm, có sự khẳng định và kết luận của huyện ủy Kon Rẫy. 1 Theo Hồ sơ di tích lịch sử cách mạng Căn cứ huyện ủy H16: giai đoạn 1960-1965 khu căn cứ này có tên gọi: Căn cứ H16, giai đoạn 1965-1969 gọi theo mật danh là “cơ quan anh Tư”, giai đoạn 1970-1975 gọi là cơ quan Huyện ủy H16. 2 Theo lời kể của đồng chí A Bá- nguyên huyện đội phó H16 giai đoạn 1962-1967 [7] Lý lịch di tích Phân xưởng luyện gang –Quân giới khu V thuộc xã Đăk Kôi, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum, Sách Lịch sử Quân giới Khu 5 1945-1975, NXB Quân đội nhân dân, trang 152 ghi : “ Xưởng luyện gang thành lập tháng 10/1962”. 3 Quân khu 5- Cục kỹ thuật: Lịch sử quân giới Khu 5 ( 1945-1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, trang 152 [8] Lý lịch di tích Phân xưởng luyện gang –Quân giới khu V thuộc xã Đăk Kôi, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum [9] Lý lịch di tích Phân xưởng luyện gang…Tài liệu đã dẫn. [10] Quyết định số 368/QĐ-UBND ngày 11/7/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum Quyết định về việc xếp hạng di tích cấp tỉnh Di tích lịch sử Phân Xưởng luyện gang C13-Quân giới Khu 5. 1 BCH Đảng bộ huyện Kon Plong: Lịch sử Đảng bộ huyện Kon Plong, tập I 9 1930-1975), 3-2001. [11] Theo sách: Chân dung các Bà mẹ Việt Nam anh hùng và Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Kon Tum- NXB Quân đội nhân dân – Hà Nội 2003, trang 337. [12] Theo lời kể của ông Hà Khắc Đượng, nguyên Phó bí thư huyện ủy kiểm Trưởng ban an ninh H16 ( Trần Minh Quang –Phó Ban tuyên giáo Huyện ủy Kon Rẫy ghi) 2 BCH Đảng bộ huyện Kon Plong: Báo cáo Chính trị tại đại hội đại biểu huyện đảng bộ lần thứ 7 ( họp từ 22 đến 28/10/1976)-Tại liệu lưu tại Kho lưu trũ Văn phòng Tỉnh ủy Gia Lai. [13] Quyết định số 199/QĐ-CTUBND ngày 01/6/2009 của Chủ tịch UBND tỉnh Kon Tum Quyết định về việc xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh đối với Di tích lịch sử Căn cứ huyện ủy H16 1 Theo: Nghị quyết Hội nghị du kích chiến tranh toàn tỉnh Kon Tum năm 1970. 2 Trần Văn Thân; Đấu tranh chống Đế quốc Mỹ xâm lược của các dân tộc ở tỉnh Kon Tum ( Tây Nguyên) (1954-1972). UBKHXH Việt Nam –Viện Sử học: Nghiên cứu lịch sử số 159, tháng 11 và 12 -1974 1 Đại hội đại biểu huyện Đảng bộ H16 lần thứ 5 (9/1-12/01/1972): Báo cáo chính trị: tình hình vừa qua và nhiệm vụ sắp đến.- tài liệu lưu tại kho lưu trữ văn phòng Tỉnh ủy Kon Tum. 2 Ở tỉnh Kon Tum, chính quyền cách mạng chính thức ra đời cuối năm 1968. Trước đó hình thức chính quyền sơ khai là các ủy ban tự quản ở xã, làng. 1 Báo cáo tổng kết phong trào thi đua của huyện 16 từ đại hội công nông binh lần thứ 4 tháng 2-1969 đến nay. Tài liệu lưu tại kho lưu trữ Văn phòng Tỉnh ủy Kon Tum 2 Báo cáo Tổng kết phong tào thi đua của huyện 16…tài liệu đã dẫn. 1 Hiện nay vẫn chưa xác định rõ được sự ra đời của các tổ chức (chi bộ) đảng đầu tiên của 4 xã thuộc xã Đăk Kôi, nhưng theo một số cứ liệu lịch sử và lời kể của các cán bộ từng trụ bám hoạt động tại tỉnh Kon Tum và vùng căn cứ H16 trong đó có địa bàn xã Đăk Kôi thì năm 1957 đã có cán bộ cốt cán là người dân tộc thiểu số tại chỗ, cũng thời gian này, vùng khu 6 giải thể nhập với các khu khác, địa bàn tỉnh có sự phân chia thành các H ( tương đương huyện), các xã vùng căn cứ cũng hình thành giai đoạn này, nên các tổ chức đảng tại địa bàn các xã cũng ra đời trong giai đoạn này, ( khoảng giữa năm 1957). 1 Ở tỉnh Kon Tum, chính quyền cách mạng ( thời kỳ chống Mỹ-Ngụy) chính thức ra đời cuối năm 1968. Trước đó hình thức chính quyền sơ khai là các ủy ban tự quản ở xã, làng.



