ĐẤU TRANH CỦA TÙ BINH CĂNG CÂY DỪA (1953 – 1954)
1. XÂY DỰNG TỔ CHỨC ĐẢNG, BAN ĐẠI DIỆN VÀ CÁC TỔ CHỨC QUẦN CHÚNG
+ Tổ chức Đảng: Thời gian đầu anh em tù binh mới ra Căng Cây Dừa, địch chuyển tất cả vào trại A, các tổ chức Đảng vẫn được duy trì, cụ thể như sau:
- Chuyến tàu đầu tiên chở tù binh ra đảo (tháng 7-1953) do đồng chí Nguyễn Hữu Thanh (Cụ Thanh), tù binh trại Phú Lâm, làm Bí thư[1]; đồng chí Khanh và đồng chí Trọng làm Chi ủy viên. Ngoài ra còn có sự hỗ trợ bí mật của đồng chí Thái Thủy Sanh (Bí thư Chi bộ nhà tù Phú Lâm).
- Chuyến tàu thứ hai (16-8-1953) từ Căng Đoạn Xá (Hải Phòng) ra Phú Quốc do đồng chí Nguyễn Văn (tên trong tù là Văn Tân, anh em thường gọi là Tân Cao) làm Bí thư Chi bộ. Đồng chí Phan Vinh (tên trong tù là Tiết) làm Phó Bí thư và đồng chí Tế làm Chi ủy viên.
Các Chi bộ lãnh đạo các hoạt động, chăm lo đời sống tù binh của trại. Tổ chức theo hình thức lấy đơn vị tỉnh, thành là đơn vị chính để sắp xếp chỗ ăn, ở và ghép thành từng gia đình để có sự đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau và kịp thời lãnh đạo anh em đấu tranh với địch.
Sau đó, Chi ủy chuyến tàu ở Căng Đoạn Xá (Hải Phòng) đã tìm mọi cách móc nối liên lạc với các đồng chí ở miền Nam để thống nhất sự lãnh đạo trong toàn trại.
Chi ủy hai đoàn nhập lại, thành lập Đảng ủy Lâm thời Căng. Đảng ủy gồm các đồng chí trong Chi ủy hai đoàn do đồng chí Nguyễn Hữu Thanh (Cụ Thanh) làm Bí thư.
Ban Đại diện gồm đồng chí Nguyễn Hữu Thanh (Cụ Thanh), Bí thư Đảng ủy Lâm thời Căng kiêm Trưởng Ban Đại diện. Đoàn miền Bắc cử thêm đồng chí Phạm Trọng Trinh vào Ban Đại diện hỗ trợ đồng chí Thanh. Việc cử đồng chí Nguyễn Hữu Thanh (Cụ Thanh) vào Bí thư Đảng ủy Lâm thời Căng được các đảng viên đánh giá là một việc làm sáng suốt đã kết hợp được tinh thần Bắc - Trung - Nam đoàn kết một lòng, chống lại âm mưu của địch nhằm chia rẽ tù binh Bắc - Trung - Nam.
Khi trại B được đưa vào sử dụng, địch chuyển tù binh từ trại A sang trại B. Tất cả Chi bộ trại A đều bị chuyển sang trại B, riêng đồng chí Nguyễn Hữu Thanh bị đưa đi khỏi Phú Quốc nên Chi bộ trại A được thành lập lại, đồng chí Vũ Văn Thu[2] được cử làm Bí thư Chi bộ kiêm Đại diện trưởng.
Đến đầu tháng 11-1953, các trại tiến hành bầu Đảng ủy Căng. Do điều kiện, việc bầu Đảng ủy Căng được các Chi bộ nhất trí không tổ chức đại hội mà làm theo hình thức đơn giản để đảm bảo nguyên tắc bí mật. Các Chi ủy họp với nhau, thông qua báo cáo và đề án công tác, đồng thời cử Chi ủy mới. Sau đó, bí thư các trại họp lại để tổng hợp ý kiến và bỏ phiếu bầu Đảng ủy Căng.
Kết quả có năm đồng chí được anh em tín nhiệm tuyệt đối vào Chi ủy Căng[3]:
- Nguyễn Văn An (tức Dụ), nguyên Tỉnh ủy viên, Trưởng Ban Tổ chức kiêm Trưởng Ban Huấn học Tỉnh ủy Hải Dương;
Nguyễn Văn Cầu (tức Toàn), nguyên Phó Bí thư, quyền Bí thư Huyện ủy Thanh Hà, tỉnh Hải Dương;
- Đoàn Văn Lung, nguyên Bí thư Nông hội, Bí thư Đảng đoàn Nông hội tỉnh Bến Tre;
- Phạm Văn Diệp (tức Phúc), nguyên Phó Ban Tổ chức Tỉnh ủy tỉnh Bắc Ninh;
- Trang Văn Xứng, nguyên Bí thư Thị ủy thị xã Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
Sau đó, Chi ủy mới họp và bầu đồng chí Nguyễn Văn An (tức Dụ) làm Bí thư Đảng ủy, Bí thư Liên Chi ủy trại B, đồng chí Trang Văn Xứng làm Phó Bí thư, các đồng chí còn lại là Ủy viên.
Lúc này Căng mới có hai trại A và B. Chi ủy tập trung cả ở trại B. Tuy chỉ ở một trại nhưng tù binh ở trại này gồm cả Nam, Bắc và nhiều nhà tù từ nhiều tỉnh gom lại, đảng viên cũng của nhiều đảng bộ tập hợp lại nên sự thống nhất tổ chức Đảng ở đây và Ban Chi ủy này tự nhiên mang tính cách tiêu biểu cho Đảng bộ toàn Căng.
- Tháng 12-1953, chuyến tàu chở tù binh từ Trung Bộ ra tới Căng Cây Dừa và trại C được thành lập. Anh em đấu tranh đề nghị cho trại B giúp đỡ trại C về việc ăn uống hàng ngày và tổ chức cuộc sống trong trại, bọn địch đã chấp nhận. Đảng ủy cử một số đồng chí đảng viên từ trại B sang trại C để làm nòng cốt và làm cầu nối cho tổ chức Đảng ở hai trại. Đồng chí Tế được Đảng ủy giao nhiệm vụ làm đầu mối liên lạc và đồng chí Liệu (Hải Phòng) sang làm Phó Ban Đại diện trại C[4].
tổng số đảng viên của cả ba trại A, B, C trong thời gian này là hơn 500 người. Các Chi bộ được tổ chức theo tỉnh để bám sát quần chúng địa phương hoạt động. Tỉnh nào không đủ 30 đảng viên thì ghép với tỉnh liền kề để lập Chi bộ. Chi bộ đông đảng viên thì chia ra các tổ Đảng theo huyện, quận, thị, xã... Mỗi trại có từ ba chi bộ trở lên, trại nhiều nhất là bảy chi bộ và thành lập Liên chi. Ban Chi ủy cũ, Ban Cán sự trại A và Ban Chi ủy trại C nay đổi thành ba Liên Chi ủy. Các tổ trưởng Đảng trước đây được chọn làm Bí thư Chi bộ hoặc tham gia Chi ủy.
Toàn Đảng ủy Căng có Ban Chấp hành Lâm thời (được bầu khi chưa có trại C), nay do đồng chí Nguyễn Hữu Thanh bị đưa đi khỏi Phú Quốc và trại C nhập lại, cần phải bầu Đảng ủy chung cho cả ba trại A, B, C. Trong khi chưa họp bầu Đảng ủy chung thì Liên Chi ủy trại B tạm thời đảm nhiệm. Các Liên Chi ủy có quyền hạn và nhiệm vụ lãnh đạo toàn trại mình, quyết định các vấn đề cụ thể không đợi thỉnh thị của Đảng ủy Căng và sau đó báo cáo lại cho Đảng ủy. Đảng ủy chỉ quyết định những vấn đề thuộc quy định của điều lệ Đảng.
Đảng ủy Căng đã nhanh chóng cùng Chi bộ các trại giam tiếp tục chấn chỉnh tổ chức chính quyền tự quản của tù binh từng trại: Ban Đại diện của tù binh và các tổ chức quần chúng.
+ Ban Đại diện: Ban Đại diện được bầu một cách dân chủ, do đại diện các tỉnh trong mỗi trại họp lại và bỏ phiếu bầu. Ban Đại diện tương đương tổ chức chính quyền, gồm: một đại diện trưởng phụ trách chung và quan hệ trực tiếp với nhà cầm quyền; hai phó đại diện: một phó đại diện phụ trách phân sở, hoạt động công khai, trực tiếp quan hệ với Ban Điều hành Căng; một phó đại diện phụ trách nội bộ trại hoạt động bán công khai (công khai với tù binh nhưng không công khai với địch). Ngoài ra, phó đại diện nội bộ kiêm việc phụ trách văn phòng. Và một số ủy viên Ban Đại diện hoạt động bán công khai, trực tiếp phụ trách các ban như: Ban Kinh tài, Ban Đời sống (hậu cần), Ban Trật tự, Ban Thông tin - Văn hóa - Thể thao, Ban Bình dân học vụ, Ban Kiến thiết, Ban Y Tế - Cứu tế. Mỗi ban này tùy theo nội dung công việc có thể chia thành các tiểu ban hoặc các tổ, đội trực thuộc.
Ban Đại diện tùy theo chức vụ được giao, có nhiệm vụ điều hành mọi mặt trong trại; thay mặt tù binh đề đạt các yêu cầu của tù binh với Ban Giám đốc Căng; đấu tranh với địch đòi thực hiện các điều khoản của Công ước Genève về tù binh; tiếp nhận, phổ biến những quy định, yêu cầu của nhà cầm quyền nếu thấy hợp lý.
+ Tổ chức quần chúng: ở các trại được tổ chức theo hệ thống các địa phương và quan hệ với phó đại diện nội bộ để giải quyết các công việc có tính chất nội bộ, động viên, tuyên truyền, giải thích hoặc lấy ý kiến dân chủ. Hệ thống tiểu đội, đại đội phục vụ cho yêu cầu điều động lao động và nắm nhân khẩu phân phối thức ăn hàng ngày. Các đội chuyên thì trực thuộc các ban của Ban Đại diện. Tổ chức quần chúng hoạt động bí mật dưới hai hình thức:
- Tổ chức quần chúng trung kiên: Chi bộ chỉ đạo các đảng viên lựa chọn ba quần chúng tốt đưa vào tổ chức và phụ trách tổ chức đó. Tổ trung kiên sẽ làm nòng cốt và chỗ dựa của tổ Đảng.
- Tổ chức tự vệ bí mật: là lực lượng quân sự bí mật, gồm những cán bộ trẻ, khỏe, đã qua thử thách, tỏ ra kiên định, dũng cảm, nhanh nhẹn được phân thành ba người một tổ, cử một người làm tổ trưởng, không phiên chế thành đơn vị lớn như trước đây. Ở mỗi trại, Chi ủy cử một cán bộ, nguyên là cán bộ quân sự phụ trách lực lượng này. Tổ tự vệ bí mật thường xuyên luyện tập, giữ gìn sức khỏe để có thể tham gia chiến đấu ở trong trại khi cần cũng như khi vượt Căng ra ngoài.
[1] Đồng chí Nguyễn Hữu Thanh (Cụ Thanh) là kỹ sư kiểm lâm, quê Tây Ninh, tham gia cách mạng năm 1945, bị thực dân Pháp bắt ở Phú Lâm, rồi đày ra Phú Quốc. Đồng chí là tấm gương đấu tranh kiên cường, dũng cảm, sống chân thành được anh em tín nhiệm. [2] Đồng chí Vũ Văn Thu trước khi bị bắt là Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính huyện Liên Nam, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội) [3] Huy Ninh, Phú Quốc - Sóng dội Hòn Dừa, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hải Hưng, 1991, tr. 74 - 75 [4] Huy Ninh, Phú Quốc - Sóng dội Hòn Dừa, Sở Văn hóa, Thông tin và Thể thao tỉnh Kiên Giang, 1993, tr. 98



