ĐẤU TRANH GIỮ TRÒN KHÍ TIẾT PHẨM CHẤT CÁCH MẠNG, CHỐNG ĐỊCH CƯỠNG ÉP CHIÊU HỒI
ĐẤU TRANH GIỮ TRÒN KHÍ TIẾT PHẨM CHẤT CÁCH MẠNG, CHỐNG ĐỊCH CƯỠNG ÉP CHIÊU HỒI
Chống cưỡng ép chiêu hồi là đỉnh cao ác liệt nhất trong cuộc đấu tranh giữa tù binh và cai ngục trong trại giam tù binh Phú Quốc. Tù binh phải chống trả không để địch thực hiện được mục tiêu giết chết sinh mạng chính trị của người cách mạng. Hai phía đều kiên trì mục tiêu của mình trong một cuộc chiến rất không cân sức. Địch nắm thế chủ động, với dã tâm thâm độc, dùng vũ lực đàn áp, khủng bố, gây không khí căng thẳng. Tù binh bị động nhưng kiên trì chống lại bằng ý chí bất khuất và tấm lòng kiên định vì lý tưởng độc lập, tự do của Tổ quốc. Có khi tổ chức Đảng chưa tập hợp để trực tiếp lãnh đạo thì từng cá nhân phải đơn độc đối phó và phải độc lập quyết định số phận của mình.
Để giữ được sinh mệnh chính trị, nhiều tù binh đã bị đánh đập thương tật, tàn phế và không ít người phải trả giá bằng mạng sống. Vũ lực và vũ khí của địch làm một số anh em chấp nhận vào trại Tân sinh hoạt, nhưng phần đông tù binh không khuất phục. Tại các phân khu trọng điểm như khu 4, khu 6, khu 8, hầu hết anh em cố gắng chịu đựng, chấp nhận mọi đau đớn và đã thoát ra về với khu tù binh. Đó là thắng lợi lớn của lòng dũng cảm, ý chí kiên trung của người cách mạng.
Đối với người yêu nước chân chính khi sa vào tay địch, là bước vào một cuộc chiến đấu mới, phải tìm mọi cách giữ tròn khí tiết cách mạng dù phải hy sinh. Người bị bắt phải độc lập chiến đấu, gan dạ chịu đựng mọi sự tra tấn, đòn roi và cả những thủ đoạn tâm lý như dụ dỗ và lừa bịp của địch, nhằm bảo vệ tổ chức, bảo vệ cơ sở cách mạng, bảo vệ bí mật quốc gia và quốc phòng, không để địch đánh phá gây thiệt hại cho dân, cho nước.
Phần lớn tù binh không khai báo, không phản bội lợi ích cách mạng, họ đã dũng cảm lên án, chửi thẳng vào mặt bọn cai ngục và đã hy sinh anh dũng. Nhiều người tỉnh táo, khôn khéo khi bị tra khảo, dùng lời lẽ thuyết phục để bọn địch có thể tin, cho qua, mà không gây thiệt hại cho cách mạng, bảo vệ được tổ chức và cơ sở, hoặc giảm nhẹ tối đa những thiệt hại nói trên. Tù binh nào cũng phải đi qua cửa ải sinh tử này, và đa số chiến sĩ quân đội bị địch bắt đã vượt qua được bởi nhiều lý do. Nhưng lý do chính là nhờ họ có bản lĩnh chính trị, phẩm chất cách mạng, sống có lý tưởng, kiên định đi theo con đường cách mạng.
Trước khi bị đày ra Trại giam tù binh Cộng sản Việt Nam Phú Quốc, anh em đã phải qua nhiều lần thẩm vấn tại các trại giam vùng chiến thuật. Vì vậy, ít nhiều tù binh Trại giam Phú Quốc hầu hết đã có quá trình tiếp xúc và kinh nghiệm đấu tranh tự lực cũng như đấu tranh có sự phối hợp, hỗ trợ của tập thể.
Tại Trại giam tù binh Phú Quốc những năm 1967-1968, tuy đã xảy ra nhiều cuộc đấu tranh với bọn cai tù nhưng nhìn chung, cuộc đấu tranh chưa đến mức quá căng thẳng. Sau cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân, nhất là khi bắt đầu cuộc đàm phán bốn bên tại Paris, Mỹ - ngụy đã nhanh chóng hoạch định và thực thi ngay kế hoạch hậu chiến, tăng cường đàn áp, đánh đập, cưỡng bức chiêu hồi.
Như trên đã nêu, ngày 8-3-1969, Trung tướng Nguyễn Văn Vỹ, Tổng trưởng Quốc phòng ngụy quyền Sài Gòn đã ký ban hành “Huấn thị số 979”, ấn định “kế hoạch chuyển hướng tư tưởng và phân loại tù binh cộng sản Việt Nam để tranh thủ tù binh về với chính nghĩa quốc gia khi chiến tranh chấm dứt”,
Chuyển hướng tư tưởng và phân loại tù binh thực chất là “cưỡng ép chiêu hồi”. Đó là mưu đồ thâm độc nhất của Mỹ -ngụy nhằm mục đích vô hiệu hóa người tù, tức là hủy diệt sinh mạng chính trị của tù binh, làm cho tù binh trở thành người vô dụng. Địch rất thâm độc biến người chống đối chúng thành kẻ đầu hàng phản bội lý tưởng sống của chính họ, trở thành kẻ phục vụ lợi ích của đế quốc Mỹ và ngụy quyền tay sai.
Triển khai mưu đồ hiểm độc, tàn ác này, Mỹ - ngụy đã thành lập một tổ chức chặt chẽ từ trung ương đến từng trại giam và khu giam, đồng thời huy động một lực lượng khá lớn nhân viên an ninh quân đội, tâm lý chiến, lực lượng quân cảnh và giám thị, lôi cuốn một bộ phận tù binh phản bội làm tay sai (mật báo, trật tự) tham gia, triển khai đồng loạt tại tất cả các khu giam, thành một chiến dịch kéo dài suốt gần hai năm.
Vì vậy, đối với tù binh, đấu tranh chống cưỡng ép chiêu hồi là cuộc đấu tranh sống còn có tính nguyên tắc nhằm bảo vệ khí tiết và phẩm chất cách mạng, bảo vệ lý tưởng và sinh mạng chính trị của mình. Dẫu biết rằng chính sách cai trị nhà tù vô cùng tàn khốc và vô nhân đạo của Mỹ - ngụy, cuộc chiến đấu lại diễn ra trong lúc địch đang cố ý dùng vũ lực đàn áp khủng bố những người bị chúng bắt giam giữ, thì sự đau đớn, hủy hoại về thể xác, thậm chí thiệt thân là không tránh khỏi. Tuy nhiên, với người tù binh cộng sản Việt Nam chỉ có một con đường duy nhất là trực tiếp đối mặt với quân thù, chiến đấu giữ vững khí tiết cách mạng. Vì từ lâu, Mỹ -ngụy đã thực hiện chính sách chiêu hồi, dụ dỗ chiến sĩ cách mạng “hồi chánh” “về với chính nghĩa quốc gia”, chúng đã lập Ty Chiêu hồi chuyên trách công việc này, nhưng không thành công như dự định.
Rút kinh nghiệm, chiến dịch này chúng làm cách khác ráo riết và đẫm máu hơn. Chúng mở ra một chiến dịch quy mô lớn, tại Trại giam tù binh Cộng sản Việt Nam/ Phú Quốc, địch vận hành cả một bộ máy quân sự và tâm lý chiến cấp quốc gia, dưới sự chỉ huy trực tiếp của một tướng lĩnh cấp cao là Tổng trưởng Quốc phòng của ngụy quyền Sài Gòn.
Vẫn sử dụng thủ đoạn quen thuộc là dụ dỗ và lừa bịp nhưng lần này chúng thẳng tay đàn áp, khủng bố buộc tù binh phải lựa chọn (dưới áp lực đòn roi, súng đạn) hoặc là về với Việt Nam Cộng hòa để “còn sống trở về gia đình” (!), hoặc tiếp tục “ngoan cố trung thành với cộng sản” thì sẽ rục xương trên đảo. Tù binh chỉ có lòng trung thành tuyệt đối với lý tưởng của người chiến sĩ cách mạng mới giữ được khítiết, bảo vệ được sinh mạng chính trị.
- Thực thi chiến dịch cưỡng ép chiêu hồi, việc địch làm trước tiên là ra sức truy tìm, đánh phá các tổ chức bí mật trong các phân khu giam mà chúng biết là đã từng có uy tín trong việc lãnh đạo, tổ chức tù binh đấu tranh chống lại chính sách cai trị, phá vỡ nhiều mưu đồ đen tối của chúng.
Từ đầu năm 1969, Mỹ - ngụy bắt đầu gọi những người chúng tình nghỉ ra hù dọa, chất vấn, đánh đập, phạt vạ, hòng tìm ra manh mối lãnh đạo của tù binh. Trong số người chúng bắt, có một số đảng viên, đoàn viên, cũng có người đúng là lãnh đạo, nhưng tất cả đều chịu đựng mọi sự đánh phạt, vượt qua mọi sự đau đớn, bảo vệ tổ chức, không khai báo. Một số bị đánh đập, tra hỏi nhiều lần, nhốt chuồng cọp năm, ba ngày rồi thả về. Tuy nhiên, trong số người bị kêu ra đánh đập cũng có người là thường dân, có người là du kích... và do sợ đòn roi nên khai ra một số anh em. Địch lại bắt những anh em bị khai báo đem ra tra hỏi, đánh đập. Lần này chúng đánh, phạt nặng nề hơn, nhốt chuồng cọp lâu hơn và đưa ra biệt giam hành hạ gắt gao hơn. Nhiều người bị bắt đi bắt lại nhiều lần, bị nhốt chuồng cọp, biệt giam nhiều lần, số bị thương tật không ít và số thiệt mạng bao nhiêu chưa có ai tính hết được.
Trước đây tù binh từng có nhiều cuộc đấu tranh chống giám thị đánh phạt tù vô cớ, có lúc tuyệt thực từ năm đến bảy ngày hoặc nhiều hơn, buộc Bộ Chỉ huy trại giam phải xuống giải quyết, có khi chúng thuyên chuyển tên giám thị đã đánh phạt tù hoặc hứa hẹn không đánh phạt nữa... Nhưng trong tình hình bấy giờ, lúc địch đang thực thi chủ trương cưỡng ép tù binh chiêu hồi bằng vũ lực thì đấu tranh chống việc đánh phạt lâm vào thế bị động, địch cố ý không giải quyết các yêu sách của tù binh. Đảng ủy, Chi bộ và các tổ chức quần chúng trước nay luôn đưa chương trình giáo dục giữ gìn khí tiết và phẩm chất cách mạng vào các hoạt động sinh hoạt thường xuyên; giờ đây vẫn bí mật tìm cách gặp gỡ, động viên đảng viên và quần chúng cố gắng đấu tranh có lý lẽ với địch, tiếp tục giữ vững khítiết, bảo vệ tổ chức. Tuy nhiên, đối mặt với quân thù, từng tù binh vẫn phải độc lập chịu đựng, tự mình vượt qua là chính.
Tổ chức đấu tranh bằng hình thức bất hợp pháp lúc này rất khó thành công. Nhiều phân khu đã quyết liệt phản kháng nhưng vì địch đã có mưu đồ, nên cứ để mặc cho bộ máy kềm kẹp và bọn trật tự lộng hành. Khi quá bức xúc, anh em vùng lên đánh lại, xung đột xảy ra thường có đổ máu. Quân cảnh bên ngoài xả súng bắn, phóng lựu đạn cay vào trại, anh em chụp lưu đạn cay ném trả ra, hoặc có khi đánh diệt mật báo, trật tự, bắt quân cảnh làm con tin. Thường đến lúc máu đổ địch mới chịu giải quyết.
Trước khi bước vào cao trào cưỡng ép chiêu hồi để lập trại Tân sinh hoạt, địch lập đội (hoặc ban) trật tự công khai làm lực lượng nòng cốt để kìm kẹp, khủng bố và đánh phá tổ chức của tù binh, thủ tiêu mọi quyền sống tối thiểu của tù binh trong khu giam. Do vậy, tù binh các phân khu đều kiên quyết chống lại không để địch lập các đội này. Nếu đấu tranh thắng lợi, đội trật tự công khai rút đi thì việc cưỡng ép chiêu hồi chưa thể tiến hành được, ít nhất là trong thời gian trước mắt.
Tuy nhiên, địch có lắm mưu kế để xây dựng bộ máy kìm kẹp tù binh. Chúng liên tiếp chuyển trại, xáo trộn tù binh từ khu này đến khu khác. Có khi chúng chuyển tù binh từ nhiều phân khu đến một phân khu trống, coi như thành lập một phân khu hoàn toàn mới.
Điều này gây nhiều khó khăn cho tù binh trong việc tìm hiểu, móc nối hình thành tổ chức lãnh đạo đấu tranh và nếu phát hiện có những tên mật báo hoặc đội trật tự lập sẵn thì cũng rất khó tổ chức đánh đuổi chúng.
Những lúc đó anh em phải nhanh chóng móc nối, tập hợp thành bộ phận lãnh đạo, và nhất trí quyết tâm phá ngay đội trật tự khi chúng mới thành lập hoặc vừa đưa từ nơi khác tới.
Phân khu A4 tháng 2-1970 đã đánh trật tự do giám thị đưa từ nơi khác tới đàn áp, diệt 3 tên, 1 tên bị móc mắt, 1 quân cảnh bị thương; 13 tù binh chết, khoảng 30 người bị thương. Chỉ huy trưởng trại giam xuống giải quyết, chấp nhận toàn bộ yêu sách của tù binh.
Sự hy sinh của anh em A4 khá lớn nhưng thành công nhiều hơn, buộc địch chấm dứt kế hoạch cưỡng ép chiêu hồi tại phân khu này. Nếu không có sự hy sinh đó, để sau một thời gian địch lập được đội trật tự công khai đàn áp anh em thì thiệt hại càng nặng nề hơn.
Cuộc đấu tranh của phân khu A10 vào giữa tháng 6-1970 đuổi được 28 tên trật tự được cài vào khi địch chuyển tới lập phân khu mới. Nhờ có chủ trương thống nhất và hành động cương quyết, anh em đã diệt 3 tên, tên Khiêm đầu sỏ chết ngay, 2 tên khác bị thương nặng. Mặc dầu địch khủng bố bắt nhiều người ra tra tấn, đánh đập, anh Ba Cao (một lãnh đạo phân khu) bị đánh gãy chân, anh em vẫn ngồi tại sân suốt một ngày, kiên quyết đòi đuổi bọn trật tự, dù có hy sinh cũng không lùi bước.
Đến 16 giờ, thấy toàn thể anh em trong phân khu đều một lòng, bọn trật tự ôm đồ đạc cá nhân chạy ra cổng. Quân cảnh bên ngoài đưa chúng đến nơi khác.
Cuộc đấu tranh của tù binh nhằm mục đích đánh, đuổi và tiêu diệt bọn mật báo, trật tự không cho bọn phản bội tay sai sống lẫn lộn trong phân khu thắng lợi đã góp phần to lớn, có tính quyết định cho thắng lợi của chiến dịch chống cưỡng ép tù binh chiêu hồi, lập khu Tân sinh hoạt. Trong các phân khu, khi không có bọn mật báo, trật tự, tù binh được thực hiện quyền tự quản, tự cử đại diện, trưởng phòng, nhà bếp, tự cắt đặt mọi việc trong phân khu và có thể hóa giải mọi âm mưu đàn áp khủng bố để cưỡng ép chiêu hồi.
Nhưng địch không bỏ cuộc giữa chừng, chúng đưa hàng chục thậm chí hàng trăm tên trật tự lập sẵn ở các khu khác sang một phân khu mới làm nòng cốt khủng bố đàn áp để hình thành đội trật tự tại chỗ. Như ở C6, vào cuối tháng 5-1970, anh em tù binh đã đấu tranh thắng lợi, phá tan âm mưu lập đội trật tự công khai. Địch phân tán anh em sang nhiều phân khu khác, đồng thời đưa nhiều tù binh các phân khu khác về C6.
Rút kinh nghiệm lần thất bại trước, chúng sớm dựng lên bộ máy kìm kẹp gồm đại diện, trưởng phòng và đội trật tự lập sẵn từ nơi khác đưa sang. Vừa vào phân khu, dưới sự cổ vũ của quân cảnh và giám thị, bọn này tiến hành ngay việc đánh đập, kìm kẹp rất gắt gao khiến tù binh không phản ứng kịp. Về sau, bọn ác ôn này trở thành lực lượng nòng cốt khủng bố, sàng lọc tù binh và dựng bảng Tân sinh hoạt ở C6.
- Đến bước quyết định buộc người tù phải lựa chọn chịu chiêu hồi hay chống chiêu hồi. Địch không dùng thủ đoạn tuyên truyền dụ dỗ hay lừa mị nữa, mà thẳng tay dùng vũ lực để sàng lọc. Đối với loại đầu hàng theo Việt Nam Cộng hòa chúng không đánh đập, cho ở lại rồi sau đó dựng bảng khu Tân sinh hoạt; còn với số anh em không chịu chiêu hồi, chúng đánh đập dã man bất cứ lúc nào, chuyển từ phân khu này sang phân khu khác tiếp tục khủng bố, đánh đập. Dưới sự đàn áp dã man của địch, các tổ chức Đảng và quần chúng bị phân tán không thể tổ chức lại ngay trong thời gian ngắn để lãnh đạo, đoàn kết tù binh trong đấu tranh.
- Tại các phân khu của khu 4, khu 6, khu 8, những nơi địch lấy làm trọng điểm đánh phá, phần lớn tù binh bị đánh đập, bị nhốt vào chuồng cọp, biệt giam nhiều lần nên thân thể đầy thương tích, gầy ốm, kiệt quệ. Tổ chức Đảng và quần chúng nhiều phân khu cũng tan tác, không còn là chỗ dựa cho tù binh trong hoàn cảnh ngặt nghèo. Có nơi tuy còn một số lãnh đạo, nhưng không dám ra quyết định hay chủ trương gì, mà dù có quyết định đúng thì cũng không thể thi hành được. Vì vậy, giữa lúc bọn cai ngục và lũ trật tự liên tục đánh đập hết ngày này đến ngày khác, mỗi người hầu như phải đơn độc chiến đấu và tự quyết định lấy số phận của mình. Đây thực sự là lúc thử thách lòng gan dạ, tính kiên trung của mỗi tù binh.
- Tại phân khu A6, nhiều anh em đã chịu đựng mọi kiểu đánh đập liên tục hàng tháng trời, cắn răng chịu đánh để không rơi vào Tân sinh hoạt, không mang tiếng chiêu hồi. Cuối cùng, đến ngày 18-7-1970 địch chuyển anh em sang phân khu D6.
- Tại đây khoảng 20 ngày sau anh em lại bị bọn ác ôn hành hạ cả ngày lẫn đêm ngay trong phòng giam. Tên Thiếu úy Dốc đưa một số quân cảnh và trật tự vào từng phòng giam bắt anh em ký vào đơn xin chiêu hồi. Ai không ký thì bị đánh đập tàn nhẫn. Qua các trận đòn thừa sống thiếu chết, nhiều anh em vẫn cố gắng chịu đựng. Song bị đánh liên tiếp dồn dập, cuối cùng ngày 6-8-1970, một số anh em phải chấp nhận, nhưng số đông anh em kiên quyết không chiêu hồi, chúng phải chuyển sang phân khu C6.
- Tại C6, nhiều tù binh chống chiêu hồi từ nhiều phân khu được đưa về đây. Địch tưởng rằng với bộ máy kìm kẹp tay sai khét tiếng ác ôn thì đến sắt cũng phải tan chảy, những người can đảm đến đâu cũng phải hàng phục (!). Chúng không thể ngờ rằng tim óc người tù cách mạng lại cứng rắn hơn sắt thép.
Suốt 5 ngày phải chịu sự khủng bố gắt gao, đa số tù binh vẫn kiên trì chịu đựng đau đớn, bảo vệ sinh mạng chính trị của mình. Ngày 10-8-1970, tên Thiếu úy Dốc lại dẫn quân cảnh và trật tự vào phân khu, tuyên bố hôm nay là ngày cuối cùng tù binh phải dứt khoát về hay không về với Việt Nam Cộng hòa. Suốt một buổi, giở hết mọi thủ đoạn đánh đập tàn nhẫn, kể cả cái trò hề hèn hạ, đưa 2 cà mèn với hai loại cơm ra để tù binh lựa chọn, tên Dốc còn hằn học bảo ai trung thành với cộng sản là ngu dại, chỉ đáng ăn cà mèn cơm lẫn cứt đái. Mặc kệ những lời chê dại khen khôn của bọn quân cảnh, đa số tù binh đã chọn đứng vào khối anh em chống chiêu hồi.
Cuối cùng, địch phải cho xe chuyển hết 605 (trong tổng số khoảng 1.000) tù binh kiên cường chống chiêu hồi sang Khu B10. Mặc dù tổn thất lớn (chưa có thống kê chính thức con số người chết và số thương tật), nhưng phải nói đó là một cuộc đấu tranh thắng lợi, thắng lợi lớn của lòng tin!
Tình hình cưỡng ép chiêu hồi và chống chiêu hồi tại một số phân khu trọng điểm khác cũng có nhiều điểm tương tự như khu 6. Có khác chăng là ở chỗ sự lãnh đạo có tác dụng nhiều hay ít, có nơi Đảng ủy lãnh đạo còn có chủ trương ứng phó, nhưng trước tình hình địch dùng vũ lực khủng bố quá mạnh cũng không thể xoay chuyển được tình thế, chủ yếu vẫn là mỗi người phải độc lập chiến đấu, tự quyết định số phận của mình.
Tại A8, anh em quyết định diệt tên trật tự Nguyễn Ngọc Ai, Trưởng Đại diện, nhưng tiến hành không gọn, hắn chỉ bị thương. Địch bắt nhiều người ra tra khảo, đánh đập rất dã man, giết chết anh Ba Vạn một đồng chí lãnh đạo phân khu, sau đó kìm kẹp càng gắt gao. Bọn trật tự đánh đập anh em không cần có lý do, gây nên không khí khủng bố tràn lan. Tới ngày địch đánh phủ đầu buộc phải lựa chọn về với quốc gia, chỉ còn 300 anh em chống chiêu hồi. Chúng chuyển sang phân khu C5.
Tại C5, Đảng ủy nhận định, địch còn có thể tiếp tục đàn áp bắt chiêu hồi, nên anh em phải giữ vững tỉnh thần chiến đấu, siết chặt hàng ngũ hơn nữa để bảo vệ sinh mạng chính trị của mình. Chủ trương là nếu địch vào dụ dỗ chiêu hồi thì anh em nhẹ nhàng đấu lý với chúng, còn nếu chúng đánh đập thì anh em phải phản ứng lại, quyết không cúi đầu chịu đánh. Tuy bấy giờ chỉ còn 300 anh em nhưng đó là một khối quyết tâm, một ý chí mạnh mẽ, có thể giành thắng lợi.
Đúng như dự đoán, ngay tối hôm đó tên Xương, Giám thị trưởng, dẫn một toán khá đông quân cảnh vào phòng giam. Hắn nói: Chúng bay phải theo Việt Nam Cộng hòa, nếu không chúng tao sẽ dùng vũ lực ép buộc. Anh em vẫn kiên quyết không chịu chiêu hồi. Quân cảnh xông vào đánh. Vì đã dự kiến và có chuẩn bị trước, anh em vùng lên đánh trả và vây bắt quân cảnh. Chúng hoảng hốt tháo chạy, kêu la gọi tiếp cứu. Bọn quân cảnh ngoài hàng rào nổ súng và ném lựu đạn cay vào. Tên Xương vùng vẫy thoát ra được nhưng luýnh quýnh không kịp mở cổng, cả bọn vội vã chui hàng rào kẽm gai bị móc rách cả quần áo. Hắn gọi quân cảnh nổ súng. Tù binh một người bị thương nhẹ.
Tuy trước đó A8 đã “tổn thất đến 2/3 quân số” nhưng lần này cuộc chiến đấu đã thắng lợi do kịp thời có chủ trương đúng, điều quan trọng là phát huy được yếu tố lãnh đạo. Sau đó, địch không tiến hành cưỡng ép chiêu hồi tại phân khu này nữa.
Tại phân khu C8, từ ngày 24-9 đến ngày 2-10-1970, quân cảnh và trật tự tập trung đánh đập anh em và sàng lọc suốt ngày đêm. Đến ngày 1-10 chỉ còn 37 người không chịu chiêu hồi, chúng dồn vào một phòng. Trong 37 người này có 16 đảng viên, ngay tối hôm đó anh em thành lập Chi bộ và hứa quyết tâm chiến đấu tới cùng.
Ngày hôm sau, giám thị cho tập trung tù binh ra sân điểm danh. Cả trung đội quân cảnh và bọn trật tự đông đến 150 tên xông vào đánh đập anh em. Tên trưởng giám thị khu 8 tuyên bố thành lập khu Tân sinh hoạt. Hắn kêu từng người ra hỏi. Ai gật đầu chịu chiêu hồi, hắn cho vào phòng. Ai chống lại không chịu chiêu hồi, chúng đánh cho bò lê bò càng rồi đưa xe tới chở tù binh sang phân khu D4, đẩy tất cả vào chuồng cọp.
Tại đây, chúng đưa bọn trật tự từ phân khu B4 sang đánh đập một trận nữa, cuối cùng giám thị D4 mới cho khiêng anh em phân tán vào các phòng giam.



