Dây chão, hòn chèn pháo của Trung đoàn Pháo cao xạ 367 và cuộc hành trình tìm về nơi khẩu đội trưởng Tô Vĩnh Diện hy sinh.
Dây chão, hòn chèn pháo của Trung đoàn Pháo cao xạ 367 và cuộc hành trình tìm về nơi khẩu đội trưởng Tô Vĩnh Diện hy sinh.Nếu ai có dịp ghé thăm Bảo tàng Phòng không- Không quân, chúng ta sẽ bị cuốn hút bởi các hiện vật được trưng bày nơi đây. Đặc biệt, khách trong và ngoài nước thường dừng lại ngắm nhìn những hòn chèn pháo, dây chão kéo pháo…được trưng bày ở phần: “Trung đoàn cao xạ 367 tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ” và trầm trồ, thán phục. Chính những hiện vật thô sơ này đã có một sức mạnh thần kỳ góp phần vào chiến thắng Điện Biên Phủ.
Trung đoàn pháo cao xạ 367 được thành lập ngày 1 tháng 4 năm 1953, là Trung đoàn pháo phòng không đầu tiên của quân đội ta gồm 6 Tiểu đoàn cao xạ 37mm, một tiểu đoàn xe kéo pháo. Sau khi được huấn luyện từ Trung Quốc về, Trung đoàn nhận nhiệm vụ tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Bắt đầu đêm 16 tháng 1 năm 1954, bộ đội pháo cao xạ đã lao vào cuộc chiến mới vô cùng ác liệt. Hai Tiểu đoàn 383 và 394 của Trung đoàn 367 kéo pháo vào tập kết trong lòng chảo Điện Biên Phủ theo kế hoạch “Đánh nhanh, thắng nhanh” thì được lệnh kéo pháo ra bố trí lại thế trận theo phương án 2 “Đánh chắc, tiến chắc”. Để kéo những khẩu trọng pháo nặng hàng tấn vào trận địa, bộ đội ta phải vượt qua bao núi cao, vực sâu hiểm trở dưới mưa bom, lửa đạn của địch. Bộ đội công binh ngày đêm mở đường, hạ bớt độ dốc; bộ binh thì vào rừng lấy dây có, dây mây đấu thêm vào dây chão cho chắc. Có những dốc cao tới 60 độ rất nguy hiểm như đỉnh Pha Sông (dốc bảy tời), mỗi khẩu pháo phải dùng sức của hàng trăm người mới nhích dần từng bước. Khi kéo lên dốc, pháo nhích đến đâu thì hai đồng chí ở đằng sau dùng hòn chèn chèn lại cho khỏi tụt. Khi xuống dốc, bộ đội ta phải cuốn dây kéo pháo vào trước rồi nhả tời từ từ với chèn. Mỗi khi dây đứt, pháo lao nhanh xuống dốc, anh em bình tĩnh vừa chạy lùi vừa lắc, vừa chèn bánh xe để cứu pháo. 
Kéo pháo vào đã gay go nhưng kéo pháo ra lại càng khó khăn nguy hiểm hơn. Sau khi có lệnh kéo pháo ra, đêm 1-2-1954, khẩu pháo của Khẩu Đội 3, Trung đội 2, Đại đội 827, Tiểu đoàn 394, Trung đoàn pháo phòng không 367 ra đến dốc “chuối”. Trời tối như bưng, lác đác có mưa phùn, hai bên đường, bộ đội rải những khúc gỗ mục có lân tinh nhưng ánh sáng chỉ lờ mờ. Trung đội trưởng Trung đội 2 Trần Quốc Chân mặc áo mưa lộn trái cho màu trắng ra ngoài làm dấu. Chính trị viên Đại đội 827 Phạm Chúc đứng ở đầu dốc nhắc nhở lực lượng kéo pháo thận trọng đưa pháo xuống dốc. Đại đội trưởng ra lệnh nhả tời. Được mấy vòng, bỗng “phựt”, dây tời bị đứt. Pháo lao nhanh. Hơn trăm con người thuộc Tiểu đoàn 166 Trung đoàn bộ binh 209 rạp người về phía sau, miết chân xuống mặt dốc, kìm giữ cho pháo chuyển động từ từ. Đạn pháo địch bắn tới tấp, một vầng sáng lóe lên kèm theo tiếng nổ. Mảnh đạn pháo cắt đứt một trong 4 dây kéo pháo. Mất thăng bằng, khối thép 2 tấn lao nhanh. Các pháo Thủ Phùng, Tiết, Ước, Đài lao chèn vào 4 bánh nhưng pháo vẫn chồm qua. Người lái càng phía ta luy âm Nguyễn Văn Chi cúi gập lưng, dùng vai đẩy chạc gỗ về phía ta luy dương; Trung đội phó Trung đội 2 Tô Vĩnh Diện dùng hết sức kéo đòn lái về phía sườn núi. Bánh trước, bên phải húc trúng gốc cây cụt, bật cả rễ lên mặt đường, cuốn vào gầm pháo, đòn lái bật trở lại, hất pháo thủ Chi xuống vực sâu. Tô Vĩnh Diện theo đà, bị ngã, kịp vùng dậy, chuyển sang phía ta luy âm, nắm đòn lái, hất mạnh về bên sườn núi. Pháo chồm lên, cuốn Tô Vĩnh Diện vào gầm, dừng lại. Chiếc đế kích đè vào đầu và chiếc mũ sắt của Tô Vĩnh Diện - Trung đội trưởng Chân lệnh cho các pháo thủ chèn chặt 4 bánh, yêu cầu bộ binh khẩn trương chặt rễ cây, kéo lùi pháo lại, đưa Tô Vĩnh Diện ra ngoài. Ba phút sau, Tô Vĩnh Diện tắt thở. Đơn vị đưa Tô Vĩnh Diện ra Bệnh viện dã chiến số 2 (khu vực bãi bằng gần hồ chứa nước thác Bay hiện nay) rồi chôn cất. Năm 1956, Nhà nước truy tặng Tô Vĩnh Diện Huân chương Kháng chiến hạng Nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Anh hùng Tô Vĩnh Diện cứu pháo, hy sinh là một trong các sự kiện tiêu biểu của Chiến dịch Điện Biên Phủ, nhưng 49 năm sau (năm 2003), vị trí anh hùng Tô Vĩnh Diện cứu pháo mới được khảo sát, xác định. Ngày 17-8-2003, Ban Quản lý Dự án Di tích Điện Biên Phủ (BQLDADT ĐBP) phối hợp với Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam (BTLSQSVN) tổ chức khảo sát vị trí nói trên. Nhân chứng lịch sử có Đại tá Trần Quốc Chân, nguyên Trung đội trưởng Trung đội 2, Đại đội 827.
Đại tá Chân ra hiệu dừng xe ở khoảng km13 Đường 279 (Đường 42 cũ), từ thành phố Điện Biên Phủ đi huyện Tuần Giáo. Ông chỉ tấm bia bên hữu ngạn sông Nậm Rốm (nay là địa điểm đặt tượng đài kéo pháo và nói: đây là điểm bắt đầu của đường kéo pháo. Mặt nước rộng khoảng 15m, không thể lội qua. Giám đốc Ban Quản lý Dự án thuê mảng và người dẫn đường sang bờ bên kia, Đại tá Chân hỏi người dẫn đường có biết “đường kéo pháo ngày trước không, người dẫn đường trạc 40 tuổi trả lời “biết chớ”: Nói rồi ông ta cầm con dao quắm chui vào một lối mòn rậm rạp, men theo lưng chừng đồi thấp. Các thành viên trong đoàn đi theo. Nhìn kỹ bề mặt, lối mòn khá rộng và bằng, hợp thành với mặt vát sườn đồi một góc 1200, còn dấu vết cuốc, xẻng. Cây mọc trên bề mặt lối mòn là cây non, to nhất, đường kính bằng bắp chân. Người dẫn đường nói: “đường kéo pháo cũ đấy”. Đi khoảng 500m, mọi người nắm cành cây, dây leo, tụt xuống bờ đập hồ chứa nước thủy điện thác Bay rồi rẽ vào bãi bằng, lội qua suối. Dọc đường, những người dân gánh hoặc địu những dậu đầy bắp ngô tươi. Mọi người trèo qua dải đồi thấp trồng ngô và lúa nương bên hữu ngạn dòng suối đổ vào sông Nậm Rốm. Từ dải đồi thấp nhìn sang tả ngạn dòng suối, một vệt màu xanh non lượn dài theo sườn núi mà người dẫn đường gọi là Hớn Quái (tiếng Thái: núi Thả Trâu) lại dấu vết đường kéo pháo. Thì ra, một đoạn đường kéo pháo đã bị san lấp thành bờ đập hồ chứa nước. Đại tá Chân ra hiệu, cả đoàn tụt xuống suối, lội sang tả ngạn ngắm “Vệt Xanh non”, trèo lên. Trông xa, tưởng như “Vệt xanh non” chỉ là cỏ và cây nhỏ; đến gần, cây cao và nhiều dây leo, có chỗ là tre chằng chịt. Trưởng đoàn yêu cầu người dẫn đường phát một vạt cây, dấu tích mặt đường cũ, rộng khoảng 3m lại lộ ra. Mọi người hào hứng đi tiếp vào hẻm núi. Càng đi “đường” càng rậm. Người dẫn đường không có sức đâu mà phát cây, chỉ lấy tay rẽ sang hai bên; người sau đặt chân vào vết chân người trước, nhích từng bước. Trời đổ mưa, quần áo và giầy ướt sũng. Người sau đỡ người trước trèo qua những cây đổ chắn ngang. Hơn hai tiếng đồng hồ từ lúc qua sông, đoàn khảo sát mới được hơn 2 km. Qua hẻm núi có nhiều cây to, các thành viên trèo lên một nương sắn. Đại tá Chân, giám đốc BQLDA, Đại úy Nam đều “vồ ếch”, quần áo bê bết bùn đất, máy ảnh tuột khỏi tay, văng ra xa. Lên đỉnh đồi, nhìn trước mặt lại núi, sườn núi cao phía tay trái lại vẫn “vệt xanh non”. Đi tiếp trời đã sang chiều, vẫn mưa. Đại tá Chân tần ngần lắc đầu:”chưa thấy đoạn dốc ấy”. Người ướt, chân mỏi, bụng đói, trưởng đoàn quyết định dừng lại. Ngày 18-8-2003, tiếp tục đi khảo sát. Thành phần của đoàn có thay đổi, Phó Giám đốc BQLDA Vũ Nam Hải đi thay Giám đốc. Ông Hoàng Ngọc Tuế, nguyên chiến sỹ cũ tham gia trận cứ điểm A1, nguyên cán bộ cũ Phòng văn hóa huyện Điện Biên xin cùng đi. Phó Giám đốc dự án tìm người dẫn đường mới - ông Lò Văn Hịa, hơn 60 tuổi, cựu chiến binh thời kháng chiến chống Mỹ, ở bản Nà Nhạn 2. Về “hậu cần”, rút kinh nghiệm ngày hôm qua, Phó Giám đốc Hải mang theo 2 típ xôi và mấy chai nước. Sau khi qua sông Nậm Rốm, ông Hịa không dẫn đi theo đường bờ đập hồ chứa nước, mà đi theo sườn bên trái núi Hớn Quái. Theo đường mòn, không phải phát cây, mọi người đi nhanh hơn. Gần một tiếng đồng hồ đoàn khảo sát vào tới nương sắn hôm qua. Ông Hịa dẫn mọi người tụt xuống vực sâu, lội qua suối rồi lại leo lên sườn núi có nương ngô, bắt vào “vệt xanh non”. Đi khoảng gần một km, trưởng đoàn yêu cầu ông Hịa phát cây của “vệt xanh non” một đoạn dài 3m. Vết đường cũ lại lộ ra. Đoạn đường này thẳng, ở độ cao hai phần ba núi. Đứng ở đây, theo đường chim bay, nhìn thấy xe ô tô chạy trên đường 279. Đại tá Chân quan sát một lúc rồi lắc đầu: “vẫn chưa thấy”. Đoàn khảo sát bỏ “vệt xanh non”, trèo hẳn lên đỉnh núi rồi tụt xuống sườn dốc bên kia, đi theo suối về phía trái khoảng nửa km. Hai bên bờ suối, dân trồng ngô, rải rác có vết hố bom. Nhìn lên, giữa đỉnh núi vừa đi qua và chỏm núi đá cao ngất phía trước bên phải có một yên ngựa. Đại tá Chân ra hiệu cho mọi người cắt đường, leo lên. Đồng hồ chỉ 11 giờ 30 phút. Đại tá Chân đề nghị mọi người dừng lại, tản ra, tìm dấu tích. Cây lau và cây “Chó đẻ” mọc dày đặc, ngập đầu người. Đại tá Chân yêu cầu ông Hịa phát cây một đoạn dài, dấu vết đường cũ lại lộ ra. Mọi người lần theo hai đầu đoạn đường vừa phát cây; thì ra đây là đoạn dốc, gấp khúc bám theo sườn núi. Đại tá Chân lộ vẻ xúc động, nói như reo lên:”Đây rồi”. Ông nhớ lại: vị trí Tô Vĩnh Diện cứu pháo là một con dốc đổ xuống theo sườn núi, độ dốc lớn, mặt dốc hẹp. Phía ta luy âm (bên tay trái) là một khe sâu, bờ khe có hai vạt chuối rừng tươi tốt; bên kia bờ khe là một thung lũng; Tô Vĩnh Diện từ phía ta luy dương lao sang phía ta luy âm để lái càng khi pháo đang xuống dốc, nòng quay phía sau, pháo thủ Chi bị văng xuống vực. Vị trí các thành viên đang khảo sát trùng với ký vức của Phan Lâu, nguyên chiến sĩ lái xe kéo pháo của Đại độ 827, phù hợp với ghi chép của Nguyễn Thế Kỷ. Tác giả hỏi ông Hịa tên vị trí đang đứng, ông nói:”Đây là sườn núi Pu Cọ (Tiếng Thái: Núi Quả Chua) thuộc xã Nà Nhạn. Trưởng đoàn yêu cầu ông Hịa phát quang vết đường cũ một đoạn dài 12m. Độ dốc của đường kéo pháo lộ rõ. Đối chiếu bản đồ, trí nhớ của nhân chứng với thực địa trưởng đoàn khảo sát kết luận: vị trí anh hùng Tô Vĩnh Diện cứu pháo, hy sinh ở đoạn dốc sườn núi Pu Cọ xã Nà Nhạn huyện Điện Biện, cách điểm bắt đầu của đường kéo pháo xấp xỉ 4km, cách đỉnh núi Pha Sông theo đường chim bay khoảng 1km. Năm 2008, BQLDA DTĐBP đã triển khai phục hồi đoạn dốc, đặt bia tưởng niệm vị trí anh hùng Tô Vĩnh Diện cứu pháo.

Kéo pháo vào đã gay go nhưng kéo pháo ra lại càng khó khăn nguy hiểm hơn. Sau khi có lệnh kéo pháo ra, đêm 1-2-1954, khẩu pháo của Khẩu Đội 3, Trung đội 2, Đại đội 827, Tiểu đoàn 394, Trung đoàn pháo phòng không 367 ra đến dốc “chuối”. Trời tối như bưng, lác đác có mưa phùn, hai bên đường, bộ đội rải những khúc gỗ mục có lân tinh nhưng ánh sáng chỉ lờ mờ. Trung đội trưởng Trung đội 2 Trần Quốc Chân mặc áo mưa lộn trái cho màu trắng ra ngoài làm dấu. Chính trị viên Đại đội 827 Phạm Chúc đứng ở đầu dốc nhắc nhở lực lượng kéo pháo thận trọng đưa pháo xuống dốc. Đại đội trưởng ra lệnh nhả tời. Được mấy vòng, bỗng “phựt”, dây tời bị đứt. Pháo lao nhanh. Hơn trăm con người thuộc Tiểu đoàn 166 Trung đoàn bộ binh 209 rạp người về phía sau, miết chân xuống mặt dốc, kìm giữ cho pháo chuyển động từ từ. Đạn pháo địch bắn tới tấp, một vầng sáng lóe lên kèm theo tiếng nổ. Mảnh đạn pháo cắt đứt một trong 4 dây kéo pháo. Mất thăng bằng, khối thép 2 tấn lao nhanh. Các pháo Thủ Phùng, Tiết, Ước, Đài lao chèn vào 4 bánh nhưng pháo vẫn chồm qua. Người lái càng phía ta luy âm Nguyễn Văn Chi cúi gập lưng, dùng vai đẩy chạc gỗ về phía ta luy dương; Trung đội phó Trung đội 2 Tô Vĩnh Diện dùng hết sức kéo đòn lái về phía sườn núi. Bánh trước, bên phải húc trúng gốc cây cụt, bật cả rễ lên mặt đường, cuốn vào gầm pháo, đòn lái bật trở lại, hất pháo thủ Chi xuống vực sâu. Tô Vĩnh Diện theo đà, bị ngã, kịp vùng dậy, chuyển sang phía ta luy âm, nắm đòn lái, hất mạnh về bên sườn núi. Pháo chồm lên, cuốn Tô Vĩnh Diện vào gầm, dừng lại. Chiếc đế kích đè vào đầu và chiếc mũ sắt của Tô Vĩnh Diện - Trung đội trưởng Chân lệnh cho các pháo thủ chèn chặt 4 bánh, yêu cầu bộ binh khẩn trương chặt rễ cây, kéo lùi pháo lại, đưa Tô Vĩnh Diện ra ngoài. Ba phút sau, Tô Vĩnh Diện tắt thở. Đơn vị đưa Tô Vĩnh Diện ra Bệnh viện dã chiến số 2 (khu vực bãi bằng gần hồ chứa nước thác Bay hiện nay) rồi chôn cất. Năm 1956, Nhà nước truy tặng Tô Vĩnh Diện Huân chương Kháng chiến hạng Nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Anh hùng Tô Vĩnh Diện cứu pháo, hy sinh là một trong các sự kiện tiêu biểu của Chiến dịch Điện Biên Phủ, nhưng 49 năm sau (năm 2003), vị trí anh hùng Tô Vĩnh Diện cứu pháo mới được khảo sát, xác định. Ngày 17-8-2003, Ban Quản lý Dự án Di tích Điện Biên Phủ (BQLDADT ĐBP) phối hợp với Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam (BTLSQSVN) tổ chức khảo sát vị trí nói trên. Nhân chứng lịch sử có Đại tá Trần Quốc Chân, nguyên Trung đội trưởng Trung đội 2, Đại đội 827.

Đại tá Chân ra hiệu dừng xe ở khoảng km13 Đường 279 (Đường 42 cũ), từ thành phố Điện Biên Phủ đi huyện Tuần Giáo. Ông chỉ tấm bia bên hữu ngạn sông Nậm Rốm (nay là địa điểm đặt tượng đài kéo pháo và nói: đây là điểm bắt đầu của đường kéo pháo. Mặt nước rộng khoảng 15m, không thể lội qua. Giám đốc Ban Quản lý Dự án thuê mảng và người dẫn đường sang bờ bên kia, Đại tá Chân hỏi người dẫn đường có biết “đường kéo pháo ngày trước không, người dẫn đường trạc 40 tuổi trả lời “biết chớ”: Nói rồi ông ta cầm con dao quắm chui vào một lối mòn rậm rạp, men theo lưng chừng đồi thấp. Các thành viên trong đoàn đi theo. Nhìn kỹ bề mặt, lối mòn khá rộng và bằng, hợp thành với mặt vát sườn đồi một góc 1200, còn dấu vết cuốc, xẻng. Cây mọc trên bề mặt lối mòn là cây non, to nhất, đường kính bằng bắp chân. Người dẫn đường nói: “đường kéo pháo cũ đấy”. Đi khoảng 500m, mọi người nắm cành cây, dây leo, tụt xuống bờ đập hồ chứa nước thủy điện thác Bay rồi rẽ vào bãi bằng, lội qua suối. Dọc đường, những người dân gánh hoặc địu những dậu đầy bắp ngô tươi. Mọi người trèo qua dải đồi thấp trồng ngô và lúa nương bên hữu ngạn dòng suối đổ vào sông Nậm Rốm. Từ dải đồi thấp nhìn sang tả ngạn dòng suối, một vệt màu xanh non lượn dài theo sườn núi mà người dẫn đường gọi là Hớn Quái (tiếng Thái: núi Thả Trâu) lại dấu vết đường kéo pháo. Thì ra, một đoạn đường kéo pháo đã bị san lấp thành bờ đập hồ chứa nước. Đại tá Chân ra hiệu, cả đoàn tụt xuống suối, lội sang tả ngạn ngắm “Vệt Xanh non”, trèo lên. Trông xa, tưởng như “Vệt xanh non” chỉ là cỏ và cây nhỏ; đến gần, cây cao và nhiều dây leo, có chỗ là tre chằng chịt. Trưởng đoàn yêu cầu người dẫn đường phát một vạt cây, dấu tích mặt đường cũ, rộng khoảng 3m lại lộ ra. Mọi người hào hứng đi tiếp vào hẻm núi. Càng đi “đường” càng rậm. Người dẫn đường không có sức đâu mà phát cây, chỉ lấy tay rẽ sang hai bên; người sau đặt chân vào vết chân người trước, nhích từng bước. Trời đổ mưa, quần áo và giầy ướt sũng. Người sau đỡ người trước trèo qua những cây đổ chắn ngang. Hơn hai tiếng đồng hồ từ lúc qua sông, đoàn khảo sát mới được hơn 2 km. Qua hẻm núi có nhiều cây to, các thành viên trèo lên một nương sắn. Đại tá Chân, giám đốc BQLDA, Đại úy Nam đều “vồ ếch”, quần áo bê bết bùn đất, máy ảnh tuột khỏi tay, văng ra xa. Lên đỉnh đồi, nhìn trước mặt lại núi, sườn núi cao phía tay trái lại vẫn “vệt xanh non”. Đi tiếp trời đã sang chiều, vẫn mưa. Đại tá Chân tần ngần lắc đầu:”chưa thấy đoạn dốc ấy”. Người ướt, chân mỏi, bụng đói, trưởng đoàn quyết định dừng lại. Ngày 18-8-2003, tiếp tục đi khảo sát. Thành phần của đoàn có thay đổi, Phó Giám đốc BQLDA Vũ Nam Hải đi thay Giám đốc. Ông Hoàng Ngọc Tuế, nguyên chiến sỹ cũ tham gia trận cứ điểm A1, nguyên cán bộ cũ Phòng văn hóa huyện Điện Biên xin cùng đi. Phó Giám đốc dự án tìm người dẫn đường mới - ông Lò Văn Hịa, hơn 60 tuổi, cựu chiến binh thời kháng chiến chống Mỹ, ở bản Nà Nhạn 2. Về “hậu cần”, rút kinh nghiệm ngày hôm qua, Phó Giám đốc Hải mang theo 2 típ xôi và mấy chai nước. Sau khi qua sông Nậm Rốm, ông Hịa không dẫn đi theo đường bờ đập hồ chứa nước, mà đi theo sườn bên trái núi Hớn Quái. Theo đường mòn, không phải phát cây, mọi người đi nhanh hơn. Gần một tiếng đồng hồ đoàn khảo sát vào tới nương sắn hôm qua. Ông Hịa dẫn mọi người tụt xuống vực sâu, lội qua suối rồi lại leo lên sườn núi có nương ngô, bắt vào “vệt xanh non”. Đi khoảng gần một km, trưởng đoàn yêu cầu ông Hịa phát cây của “vệt xanh non” một đoạn dài 3m. Vết đường cũ lại lộ ra. Đoạn đường này thẳng, ở độ cao hai phần ba núi. Đứng ở đây, theo đường chim bay, nhìn thấy xe ô tô chạy trên đường 279. Đại tá Chân quan sát một lúc rồi lắc đầu: “vẫn chưa thấy”. Đoàn khảo sát bỏ “vệt xanh non”, trèo hẳn lên đỉnh núi rồi tụt xuống sườn dốc bên kia, đi theo suối về phía trái khoảng nửa km. Hai bên bờ suối, dân trồng ngô, rải rác có vết hố bom. Nhìn lên, giữa đỉnh núi vừa đi qua và chỏm núi đá cao ngất phía trước bên phải có một yên ngựa. Đại tá Chân ra hiệu cho mọi người cắt đường, leo lên. Đồng hồ chỉ 11 giờ 30 phút. Đại tá Chân đề nghị mọi người dừng lại, tản ra, tìm dấu tích. Cây lau và cây “Chó đẻ” mọc dày đặc, ngập đầu người. Đại tá Chân yêu cầu ông Hịa phát cây một đoạn dài, dấu vết đường cũ lại lộ ra. Mọi người lần theo hai đầu đoạn đường vừa phát cây; thì ra đây là đoạn dốc, gấp khúc bám theo sườn núi. Đại tá Chân lộ vẻ xúc động, nói như reo lên:”Đây rồi”. Ông nhớ lại: vị trí Tô Vĩnh Diện cứu pháo là một con dốc đổ xuống theo sườn núi, độ dốc lớn, mặt dốc hẹp. Phía ta luy âm (bên tay trái) là một khe sâu, bờ khe có hai vạt chuối rừng tươi tốt; bên kia bờ khe là một thung lũng; Tô Vĩnh Diện từ phía ta luy dương lao sang phía ta luy âm để lái càng khi pháo đang xuống dốc, nòng quay phía sau, pháo thủ Chi bị văng xuống vực. Vị trí các thành viên đang khảo sát trùng với ký vức của Phan Lâu, nguyên chiến sĩ lái xe kéo pháo của Đại độ 827, phù hợp với ghi chép của Nguyễn Thế Kỷ. Tác giả hỏi ông Hịa tên vị trí đang đứng, ông nói:”Đây là sườn núi Pu Cọ (Tiếng Thái: Núi Quả Chua) thuộc xã Nà Nhạn. Trưởng đoàn yêu cầu ông Hịa phát quang vết đường cũ một đoạn dài 12m. Độ dốc của đường kéo pháo lộ rõ. Đối chiếu bản đồ, trí nhớ của nhân chứng với thực địa trưởng đoàn khảo sát kết luận: vị trí anh hùng Tô Vĩnh Diện cứu pháo, hy sinh ở đoạn dốc sườn núi Pu Cọ xã Nà Nhạn huyện Điện Biện, cách điểm bắt đầu của đường kéo pháo xấp xỉ 4km, cách đỉnh núi Pha Sông theo đường chim bay khoảng 1km. Năm 2008, BQLDA DTĐBP đã triển khai phục hồi đoạn dốc, đặt bia tưởng niệm vị trí anh hùng Tô Vĩnh Diện cứu pháo.



