Đêm Đông Hà Nội 1946: Khi Cả Thủ Đô Cầm Chảo, Gậy Chống Giặc
Cùng quay ngược thời gian về Hà Nội những ngày mùa đông năm 1946 – nơi mà lằn ranh giữa hòa bình và khói lửa chỉ mỏng tựa sợi tóc.
Theo lời kể của ông Lưu Xuân Trường: Tháng 12 năm 1946, Hà Nội co mình trong cái rét cắt da, nhưng không khí lại nóng hầm hập bởi những tiếng súng khiêu khích của quân Pháp. Tại ngôi nhà nhỏ ở làng Vạn Phúc (Hà Đông), Chủ tịch Hồ Chí Minh đang chạy đua với thời gian. Ông đã gửi đi hàng chục bức thư, điện văn cho chính phủ Pháp để tìm kiếm một tia hy vọng hòa bình cuối cùng.
Nhưng câu trả lời của thực dân Pháp là một tờ "tối hậu thư" ngạo mạn: Đòi ta giao nộp vũ khí và quyền kiểm soát thủ đô.
Đó là giọt nước tràn ly. Cụ Hồ hiểu rằng: Nếu không đứng lên, dân tộc này sẽ lại làm nô lệ. Đêm 19/12, bên chiếc bàn gỗ nhỏ, Cụ viết những dòng chữ đanh thép: "Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước..."
"Mật mã" từ nhà máy điện
20 giờ 03 phút ngày 19/12/1946.
Toàn thành phố Hà Nội đang chìm trong bóng tối bỗng vang lên một tiếng nổ lớn từ phía nhà máy điện Yên Phụ. Công nhân của ta đã phá máy! Đèn điện phụt tắt – đó chính là "mật mã tử thần" dành cho quân Pháp. Ngay lập tức, pháo đài Láng nã những phát súng đầu tiên vào các căn cứ địch trong thành phố.
Cuộc kháng chiến toàn quốc chính thức bắt đầu theo cách không thể kịch tính hơn.
Những "pháo đài" bằng bàn ghế và sập gụ
Bạn hãy tưởng tượng: Giữa những con phố cổ nhỏ hẹp, người dân Hà Nội đã làm gì để chặn xe tăng địch?
Họ khiêng cả bàn thờ, sập gụ, tủ chè, giường gỗ và hòm xiểng ra giữa đường. Thanh niên, tri thức, người bán hàng rong... tất cả cùng nhau đắp chiến lũy. Những cây cột đèn bị cưa đổ, những mảng tường bị đục thủng để tạo thành đường hầm thông từ nhà này sang nhà khác.
Hà Nội bỗng chốc biến thành một "mê cung khổng lồ". Quân Pháp với vũ khí hiện đại bỗng thấy mình lạc lối giữa những con phố mà mỗi cửa sổ đều có thể là một họng súng, mỗi góc tường đều là một chiến sĩ.
Những "Cảm tử quân" và cây bom ba càng
Hình ảnh biểu tượng nhất của những ngày này chính là những chàng trai trẻ của Trung đoàn Thủ đô. Họ mặc áo trấn thủ, đầu đội mũ ca lô, tay ôm cây "bom ba càng" dài ngoằng.
Đó là một loại vũ khí vô cùng nguy hiểm, không chỉ cho địch mà cho cả người dùng. Để đánh tan xe tăng Pháp, người chiến sĩ phải lao thẳng cây bom vào mục tiêu ở khoảng cách gần. Đó là những cuộc tấn công "một đi không trở lại". Tinh thần "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh" không còn là khẩu hiệu, nó là nhịp thở của mỗi con phố Hà Nội lúc bấy giờ.
Cuộc rút lui thần kỳ sau 60 ngày đêm
Pháp ngạo mạn tuyên bố sẽ chiếm Thăng Long trong 24 giờ. Thế nhưng, quân dân ta đã giam chân chúng suốt 60 ngày đêm.
Khi nhiệm vụ bảo vệ Trung ương rút lên chiến khu an toàn đã hoàn thành, đêm 17/2/1947, Trung đoàn Thủ đô thực hiện một cuộc rút quân bí mật xuyên qua gầm cầu Long Biên, dưới mũi súng quân thù để về căn cứ. Họ ra đi, để lại trên vách tường những dòng chữ bằng phấn: "Hẹn ngày trở về".
Câu chuyện năm 1946 không chỉ có đạn bom, nó còn có cả chất hào hoa của người Hà Nội: đánh giặc mà vẫn làm thơ, vẫn đàn hát giữa những chiến lũy đổ nát. Đó là cuộc chiến của cái tâm thiện chí hòa bình đối đầu với bạo tàn, của lòng dân đoàn kết chống lại sắt thép.



