ĐÊM GIỮ LỬA BẾP NA KA
Câu chuyện hồi tưởng về những đêm giữ lửa bếp – nơi thanh niên xung phong vùng Tây Bắc thay phiên thức trắng canh lửa bếp nhỏ trong hầm trú ẩn để nấu cháo, sưởi ấm đồng đội, giữ ấm lương thực giữa bom đạn và giá lạnh khắc nghiệt trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1967-1970), dựa trên sự kiện lịch sử thực tế về đời sống hậu phương giản dị nhưng đầy ý nghĩa của lực lượng thanh niên xung phong địa phương tại vùng Mường Lay - Lai Châu, khi lửa bếp không chỉ là nguồn sống mà còn là biểu tượng của s
Tôi vẫn hay trở về Bản Na Ka mỗi khi trời lạnh buốt, ngồi bên bếp lửa nhỏ mà lòng chợt dâng trào ký ức về những đêm giữ lửa bếp giữa bom rơi, nơi tuổi trẻ chúng tôi đã dùng đôi tay run rẩy để giữ cho đồng đội một chút ấm áp giữa lòng Tây Bắc giá lạnh. Sinh năm 1945, ở vùng đất Na Lay - Mường Lay ngày ấy, tôi lớn lên giữa những bếp lửa hồng và nương rẫy, nghe tiếng củi nổ lách tách và tiếng gọi Tổ quốc từ những buổi họp bản. Năm 1967, khi giặc Mỹ đánh phá ác liệt, tôi tình nguyện gia nhập Đại đội C177 Thanh niên xung phong ngay tại quê nhà. Lúc đó tôi 22 tuổi, tay quen nhóm lửa nấu cơm nhưng lòng đã sẵn sàng nhóm lửa giữ ấm cho đồng đội giữa khói bom.
Những bếp lửa nhỏ trong hầm trú ẩn Na Ka là nguồn sống cuối cùng giữa chiến tranh. Chúng tôi đào hầm sâu, làm lò đất kín khói, dùng cành khô và lá khô nhóm lửa vừa đủ để nấu cháo ngô, sưởi ấm người bị thương, giữ khô lương thực. Ban ngày bom rơi, ban đêm chúng tôi thay phiên thức trắng canh lửa, thổi phù phù cho lửa cháy đều, tránh khói lộ ra ngoài. Tôi nhớ rõ một đêm năm 1968, sau trận bom B-52 rải thảm gần đồi Na Ka, cả đội run rẩy vì lạnh và mệt, nhiều anh em sốt cao mê sảng. Chúng tôi nhóm lửa nhỏ trong hầm, nấu nồi cháo loãng từ ít gạo cứu đói, đút từng thìa cho đồng đội. Lửa cháy tí tách, ánh sáng đỏ hắt lên khuôn mặt xanh xao, chúng tôi khẽ hát “Bếp lửa hồng” để át đi tiếng gió lạnh rít qua khe đá. Có đồng đội ra đi trong vòng tay chúng tôi, tay vẫn nắm chặt bát cháo còn ấm, nước mắt rơi xuống lửa, lửa vẫn cháy.
Gió núi lạnh cắt da, khói bếp cay xè mắt, nhiều anh em ho hen vì khói và chất độc da cam, tay bỏng vì giữ lửa, nhưng không ai bỏ ca canh. Chúng tôi chia nhau từng que củi khô, từng bát cháo nguội, động viên nhau: “Lửa bếp còn cháy, đồng đội còn ấm, miền Nam còn chờ”. Những ngọn lửa ấy đã giữ ấm cho hàng trăm thương binh, giữ khô từng bao gạo cho tiền tuyến, giữ lửa tinh thần cho cả đội giữa đêm đen và cái chết rình rập.
Đến năm 1970, khi tôi xuất ngũ, mang theo kỷ niệm chương và những vết sẹo chiến tranh, tôi trở về Bản Na Ka, thấy bếp cũ vẫn còn đó, tro tàn vẫn vương, núi rừng vẫn xanh, nhưng biết bao đồng đội đã nằm lại mà không kịp ăn hết bát cháo cuối cùng. Giờ đây, ở tuổi già, ngồi bên bếp lửa nhỏ nghe tiếng củi nổ lách tách, tôi kể lại cho con cháu nghe về những đêm giữ lửa ấy. Chúng tôi chỉ là những thanh niên vùng cao bình thường, nhưng đã dùng đôi tay và ngọn lửa nhỏ để giữ sự sống, để đền ơn Tổ quốc. Lực lượng Thanh niên xung phong – những bóng hoa lửa thầm lặng trong đêm giữ lửa bếp Na Ka – mãi là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Tôi mong các cháu sẽ giữ gìn hòa bình hôm nay, noi gương cha anh, để bếp lửa quê hương mãi hồng, non sông mãi vững vàng, trường tồn.



