Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Đêm hành quân lịch sử qua Mông Dương tiếp quản Vùng Mỏ (Tháng 4/1955)

Câu chuyện qua lời kể của những cựu binh Trung đoàn 244. Đêm 19, rạng sáng 20/4/1955, những người lính trẻ tuổi đôi mươi đã bí mật vượt qua Mông Dương, tiến thẳng vào trung tâm Cẩm Phả, Cửa Ông. Cảm xúc nghẹn ngào của những thanh niên vác súng trên vai, nhìn xuống thị xã rực ánh đèn điện, chờ đón ánh bình minh độc lập đầu tiên của Vùng Mỏ là một hình ảnh cực kỳ xúc động.

Quảng Ninh24/03/2026Lớp TĐH K15B (Trường ĐH CN QUảng Ninh)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Theo Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết ngày 20/7/1954, hòa bình được lập lại ở Việt Nam, Khu mỏ Hồng Quảng (tên gọi của Hòn Gai, Cẩm Phả lúc bấy giờ) và TP Hải Phòng nằm trong vùng tập kết 300 ngày. Như vậy, ngày 25/4/1955 mới được giải phóng hoàn toàn. Trong những ngày này ở Vùng mỏ đã xảy ra nhiều sự kiện quan trọng. Bọn chủ mỏ thực dân Pháp sợ hãi, hối hả vơ vét của cải, vàng bạc kim cương, châu báu và những đồng Franc cuối cùng chuẩn bị xuống tàu về nước.

ụ dỗ và phản tuyên truyền không được, bọn phản động dùng bạo lực để cưỡng ép những người thợ mỏ. Chúng đã đập phá nhà cửa, cướp tài sản, bắt giam nhiều công nhân ở Núi Trọc, Cẩm Phả. Phẫn nộ trước hành động khủng bố trái với Hiệp định Giơ-ne-vơ của bọn tay sai phản động, công nhân mỏ đã tổ chức đấu tranh, làm đơn gửi Chính phủ ta và Ủy ban Quốc tế tố cáo những thủ đoạn dã man, lợi dụng tôn giáo cưỡng ép di cư.

Đồng thời với việc chống cưỡng ép di cư, những người thợ mỏ đã kiên quyết chống chủ mỏ di chuyển máy móc thiết bị. Nếu trong thời kỳ kháng chiến, việc phá hoại máy móc, phá hoại sản xuất than của chủ mỏ là một thành tích, thì lúc này khi tình thế thay đổi, người công nhân mỏ đã chuyển cuộc đấu tranh phá hoại kinh tế địch thành cuộc đấu tranh giữ máy, bảo vệ tầng lò. Khi rút chạy, chủ mỏ người Pháp đã mang theo các máy móc thiết bị khai thác và hàng vạn tấn than. Căm phẫn trước hành động đó, những người thợ mỏ đã đoàn kết ngăn cản không cho mang theo thiết bị.

Dưới sự chỉ đạo của Đặc Khu ủy Hòn Gai, công nhân ở khắp nơi đã tổ chức các đội bảo vệ máy. Ở Cẩm Phả, ngày 17/12/1954, hàng trăm công nhân tập trung vây quanh chiếc xe ô tô cỡ lớn chở những thiết bị và máy móc đưa ra cảng Cửa Ông chuyển xuống tàu về nước, đó là những thiết bị theo Hiệp định Giơ-ne-vơ, chủ mỏ không được phép mang đi. Những cuộc đấu tranh như vậy của công nhân mỏ đã mang lại những thắng lợi vẻ vang, bảo toàn được thiết bị để tiếp tục duy trì sản xuất ngay sau ngày tiếp quản, Đèo Nai có 1 máy xúc 4 khối gầu Bysurit A17 với 3 máy khoan động và 4 ô tô vận tải 20 tấn...

Ở Hòn Gai, Công ty Pháp Mỏ Than Bắc Kỳ (Societé Francaise des charbonnages du Tonkin) viết tắt là SFCT do người chủ mỏ tên là Cờ-léc- giê (Clerget) đã ký biên bản bàn giao Vùng mỏ cho trưởng phái đoàn Chính phủ Việt Nam vào tiếp quản. Đoàn tàu há mồm đỗ ở Bến phà Bãi Cháy. Những tên lính thực dân Pháp lặng lẽ cúi đầu xuống tàu rút lui khỏi Vùng mỏ. Đó là những tên Pháp cuối cùng rút khỏi đất nước ta, chấm dứt 70 năm đô hộ Việt Nam.

Ngày 25/4/1955, bộ đội ta vào tiếp quản Vùng mỏ. Lãnh đạo Ủy ban Quân quản đứng trên xe mui trần chào nhân dân và những người thợ mỏ Hòn Gai. Thị xã Hòn Gai, Cẩm Phả, Cửa Ông và trên khắp các tầng bè, nhà máy rợp bóng cờ bay, nhân dân, công nhân reo hò, vui mừng phấn phởi, những cánh tay giơ cao mũ nón, mũ lò chào đón anh Bộ đội Cụ Hồ. Trên đỉnh núi Bài Thơ ở Hòn Gai, trên đỉnh cầu trục số 4 Cửa Ông, nơi chiến tích của các chiến sĩ cách mạng Ngô Huy Tăng, Nguyễn Văn Thành treo cờ búa liềm năm xưa hôm nay những là cờ lớn tung bay trong nắng gió. Bốn chữ SFCT bằng đồng, to, nặng gắn trên cánh cổng được hạ xuống và vĩnh viễn nằm trong đống sắt vụn. Những tên thực dân Pháp mang theo vàng bạc châu báu, chó béc giê, lặng lẽ bước xuống tàu há mồm cuốn gói khỏi Vùng mỏ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn