ĐÊM HÁT RU ĐỒNG ĐỘI
Câu chuyện hồi tưởng về những đêm hát ru đồng đội bị thương hoặc sốt cao trong hầm trú ẩn – khi thanh niên xung phong vùng Tây Bắc dùng lời ru dân ca Thái, lời ru của mẹ để xoa dịu nỗi đau, giúp đồng đội vượt qua cơn sốt rét và vết thương giữa bom đạn trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1967-1970), dựa trên sự kiện lịch sử thực tế về đời sống tinh thần nhân văn, tình đồng chí đồng bào sâu sắc của lực lượng thanh niên xung phong địa phương tại vùng Mường Lay - Lai Châu, với giọng văn chân thực,
Tôi vẫn hay trở về Bản Nậm Cản mỗi khi đêm khuya gió lạnh, ngồi bên hiên nhà nghe tiếng suối xa xa mà lòng chợt dâng trào ký ức về những đêm hát ru đồng đội trong hầm trú ẩn, nơi tuổi trẻ chúng tôi đã dùng lời ru của mẹ để xoa dịu nỗi đau, giữ lấy mạng sống cho đồng chí giữa khói lửa Tây Bắc. Sinh năm 1950, ở vùng đất Mường Tùng - Mường Chà ngày ấy, tôi lớn lên giữa những lời ru êm đềm và điệu xòe vòng, nghe tiếng mẹ ru con và tiếng gọi Tổ quốc từ những buổi họp bản. Năm 1967, khi giặc Mỹ đánh phá hậu phương ngày càng ác liệt, tôi tình nguyện gia nhập Đại đội C177 Thanh niên xung phong. Lúc đó tôi 17 tuổi, giọng còn non nhưng lòng đã mang theo lời ru của mẹ để dành cho đồng đội.
Những đêm trong hầm trú ẩn Na Lay, khi đồng đội bị thương nặng hoặc sốt rét cao mê sảng, chúng tôi thay phiên hát ru. Không phải ru con thơ, mà ru người lính trẻ đang vật lộn với cơn đau, với cái chết rình rập. Chúng tôi ngồi bên giường lá, tay vuốt nhẹ trán nóng hổi, khẽ hát lời ru Thái cổ: “Ru hời ru hỡi con ơi… ru cho con ngủ giấc nồng…”, rồi xen vào những câu hát cách mạng: “Ru em ru hỡi miền Nam… ru cho bom ngừng rơi, ru cho hòa bình về”. Tiếng hát nhỏ nhẹ, run run vì lạnh và xúc động, hòa với tiếng gió rít qua khe đá, át đi tiếng bom xa xa. Tôi nhớ rõ một đêm năm 1969, sau trận bom gần đồi Nậm Cản, một anh đồng đội bị mảnh bom găm vào chân, sốt cao mê man. Chúng tôi quây quanh, thay nhau hát ru suốt đêm, giọng khàn đặc nhưng vẫn hát. Sáng hôm sau anh tỉnh lại, nắm tay tôi thì thầm: “Cảm ơn chị… em nghe lời ru mà thấy mẹ ở quê đang ru em”. Nước mắt rơi, nhưng lòng chúng tôi ấm lạ thường.
Gió núi lạnh buốt, sương đêm ướt đẫm áo, nhiều chị em giọng khản đặc vì hát suốt đêm, chất độc da cam khiến họ ho hen, nhưng không ai ngừng hát. Chúng tôi chia nhau từng ngụm nước suối, từng miếng lá rừng đắp trán, động viên nhau: “Lời ru còn vang, đồng đội còn sống, miền Nam còn chờ”. Những lời ru ấy đã giúp hàng chục đồng đội vượt qua cơn sốt, vượt qua nỗi đau, trở lại chiến trường với ý chí sắt đá.
Đến năm 1970, khi tôi xuất ngũ, mang theo kỷ niệm chương và những vết sẹo chiến tranh, tôi trở về Bản Nậm Cản, thấy suối vẫn reo, núi rừng vẫn xanh, nhưng biết bao đồng đội đã ra đi mà vẫn mang theo lời ru cuối cùng. Giờ đây, ở tuổi già, ngồi bên hiên nhà nghe gió thổi qua rừng, tôi kể lại cho con cháu nghe về những đêm hát ru ấy. Chúng tôi chỉ là những thanh niên vùng cao bình thường, nhưng đã dùng lời ru của mẹ để cứu người, để giữ lửa tình đồng chí giữa bom đạn. Lực lượng Thanh niên xung phong – những bóng hoa lửa thầm lặng trong đêm hát ru đồng đội – mãi là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Tôi mong các cháu sẽ giữ gìn hòa bình hôm nay, noi gương cha anh, để lời ru quê hương mãi vang, non sông mãi vững vàng, trường tồn.



