Đêm lửa trại của người Tày
Tôi nghe câu chuyện này từ cụ Bế Văn Sâm ở một bản người Tày vùng Cao Bằng. Cụ đã ngoài tám mươi tuổi, tóc trắng như sương núi. Mỗi lần nhắc đến những năm kháng chiến chống Pháp, cụ không kể ngay chuyện súng đạn hay những cuộc càn quét. Điều cụ nhớ nhất lại là một đêm lửa trại bên suối Khuổi Nặm. Cụ bảo: “Đêm ấy không có tiếng súng, nhưng tôi hiểu thế nào là sức mạnh của lòng người.”

Tôi nghe câu chuyện này từ cụ Bế Văn Sâm ở một bản người Tày vùng Cao Bằng. Cụ đã ngoài tám mươi tuổi, tóc trắng như sương núi. Mỗi lần nhắc đến những năm kháng chiến chống Pháp, cụ không kể ngay chuyện súng đạn hay những cuộc càn quét. Điều cụ nhớ nhất lại là một đêm lửa trại bên suối Khuổi Nặm.
Cụ bảo: “Đêm ấy không có tiếng súng, nhưng tôi hiểu thế nào là sức mạnh của lòng người.”
Mùa đông năm 1950, chiến dịch Biên giới đang diễn ra ác liệt. Bộ đội hành quân qua nhiều bản người Tày để tiến ra mặt trận. Bản Khuổi Nặm của cụ Sâm nằm giữa thung lũng, bốn phía là núi đá và rừng nghiến già.
Chiều hôm ấy, một đơn vị bộ đội dừng chân bên bãi cỏ cạnh suối. Người dân trong bản mang ngô, sắn, rau rừng ra giúp bộ đội nấu ăn. Trẻ con chạy theo xem các chú bộ đội dựng lán, mắt tròn xoe vì thích thú.
Khi trời tối hẳn, già làng Lương Văn Phúc nói:
– Đêm nay bà con đốt lửa tiễn các chú lên đường.
Một đống củi lớn được chất giữa bãi cỏ. Ngọn lửa bùng lên, soi đỏ những gương mặt sạm nắng của bộ đội và bà con trong bản.
Tiếng đàn tính cất lên trước tiên. Rồi tiếng khèn, tiếng hát lượn của các cô gái Tày ngân dài trong đêm núi.
Cụ Sâm khi ấy mới mười sáu tuổi, ngồi sát bên lửa, nhìn những người lính trẻ đang chăm chú nghe hát. Có anh quê tận Thái Bình, có anh từ Nghệ An, Thanh Hóa, lần đầu tiên được nghe điệu lượn của người Tày.
Một chiến sĩ hỏi nhỏ:
– Bài hát nói gì vậy em?
Cô gái tên Nọi mỉm cười:
– Hát rằng người đi đánh giặc rồi sẽ trở về, bản làng sẽ đón bằng tiếng khèn và rượu ngô.
Người lính im lặng rất lâu rồi nhìn vào ngọn lửa.
Sau những câu hát vui, già làng đứng dậy. Ông rót rượu vào từng chén nhỏ, mời bộ đội và bà con.
Giọng ông trầm ấm:
– Người Tày chúng tôi có tục giữ lửa. Lửa không chỉ để sưởi ấm, mà để nhắc rằng trong nhà luôn có người chờ nhau trở về. Các chú đi đánh giặc cũng là giữ lửa cho cả nước.
Không gian bỗng lặng đi.
Một cán bộ đơn vị xúc động đáp:
– Chúng cháu hứa sẽ chiến đấu để bản mình, nước mình không còn giặc.
Mọi người cùng nâng chén. Rượu ngô cay nồng, nhưng ai cũng thấy ấm trong lòng.
Đêm đã khuya mà không ai muốn ngủ. Bộ đội kể chuyện quê hương, bà con kể chuyện làm nương, chuyện chống phỉ, chuyện giấu cán bộ trong hang đá những năm trước.
Có một cậu bé trong bản hỏi:
– Các chú có sợ chết không?
Người chiến sĩ trẻ ngồi cạnh lửa khẽ cười:
– Có chứ. Nhưng nếu ai cũng sợ mà không đi, thì bản của em sẽ ra sao?
Cậu bé cúi đầu suy nghĩ rất lâu.
Cụ Sâm nói với tôi rằng chính câu trả lời ấy đã khiến nhiều thanh niên trong bản sau này xin tham gia dân công và bộ đội.
Gần sáng, sương núi phủ trắng bãi cỏ. Ngọn lửa chỉ còn than hồng. Đơn vị chuẩn bị lên đường.
Bà con mang theo nắm cơm ngô, ít muối vừng và mấy ống cơm lam tiễn bộ đội. Cô Nọi trao cho người chiến sĩ trẻ một chiếc khăn chàm tự dệt.
– Khi nào thắng giặc, nhớ mang về trả nhé.
Anh nhận chiếc khăn, gật đầu mà không nói được lời nào.
Đoàn quân đi dần vào màn sương. Tiếng hát lượn từ phía bản vẫn còn vang theo:
“Đường núi dài không dài bằng nỗi nhớ, Người đi rồi bản vẫn đợi ngày về…”
Nhiều năm sau hòa bình, cụ Sâm gặp lại một người lính trong đêm lửa trại ấy. Anh đã trở thành cán bộ, tóc điểm bạc, nhưng vẫn giữ chiếc khăn chàm cẩn thận trong ba lô.
Anh nói:
– Có những đêm lửa trại giúp người ta có thêm sức mạnh để đi qua chiến tranh.
Cụ hỏi:
– Anh có trả lại khăn cho cô Nọi không?
Người lính nhìn lên núi, mỉm cười buồn:
– Cô ấy mất trong một trận bom năm 1967. Tôi giữ chiếc khăn như giữ lời hẹn với bản mình.
Bây giờ bản Khuổi Nặm đã có điện sáng, đường bê tông vào tận nơi. Nhưng mỗi dịp lễ hội, người Tày vẫn đốt lửa trại bên suối. Thanh niên hát lượn, người già kể chuyện xưa.
Cụ Bế Văn Sâm thường ngồi rất lâu bên than hồng rồi nói với con cháu:
– Đừng quên rằng có một thời ngọn lửa này đã sưởi ấm cả bộ đội và dân bản.
Tôi nhìn những tia lửa bay lên trời đêm và hiểu rằng, đêm lửa trại của người Tày không chỉ là một kỷ niệm đẹp. Đó là biểu tượng của tình quân dân, của lời hẹn trở về và của ngọn lửa đoàn kết đã giúp dân tộc Việt Nam đi qua những năm tháng chiến tranh gian khổ nhất.


