Đêm trăng bên bờ Thạch Hãn
Trong đại đội lính sinh viên toàn dân kỹ thuật khô khan, thằng Huy "nhà thơ" nổi lên như một hiện tượng kỳ lạ. Nó là sinh viên năm thứ hai khoa Ngữ văn của Đại học Tổng hợp Hà Nội. Ngay cả khi đã khoác lên mình bộ quân phục giải phóng quân sờn rách, túi áo của nó lúc nào cũng có một cuốn sổ tay nhỏ và một cây bút kim tinh. Dân Bách Khoa tụi tôi hay chọc nó là "gã mộng mơ đi lạc vào khói súng", nhưng thú thật, vào những góc tối tăm, mệt mỏi nhất của cuộc chiến, chính những câu thơ nôm na, cái giọng đọc trầm ấm của nó lại là thứ cứu rỗi tâm hồn cả lũ.
Tôi nhớ nhất là đêm cuối tháng 8 năm 1972, một đêm trắng bên bờ sông Thạch Hãn. Bầu trời Quảng Trị đêm đó đen đặc, không một ngôi sao, chỉ có tiếng pháo từ phía bên kia bờ chốc chốc lại dội lên, rạch những vệt chớp đỏ lòm, chết chóc qua mặt sông pha lẫn mùi khói bom khét lẹt. Ai trong đơn vị cũng biết, ngày mai chúng tôi sẽ vượt sông vào Thành cổ – một trận đánh mà lệnh trên đã phổ biến rõ ràng: xác định tinh thần một đi không trở lại.
Giữa cái im lặng đến ngột ngạt của toàn quân trước giờ xuất kích, tôi bắt gặp Huy đang ngồi co gối dưới gốc một cây lộc vừng bị bom đánh cụt ngọn. Nó che một tấm tăng bạt lên đầu, lén thắp một mẩu nến nhỏ xíu bằng đốt ngón tay, hí hoáy viết cái gì đó vào cuốn sổ tay da.
Tôi bò lại gần, vỗ vai nó: "Viết gì đấy ông nhà văn? Lưu bút ngày xanh à?".
Huy giật mình, vội lấy tay che trang giấy, gương mặt thanh tú lộ ra một nét ngượng ngùng rất thư sinh. Nó cười trừ, thở dài:
"Tao đang viết nốt bài thơ cho Thùy – cô bạn cùng lớp ở giảng đường Mễ Trì. Ngày tao nộp đơn đi lính, Thùy tiễn tao ở ga Hàng Cỏ, khóc sưng cả mắt mà tao nhát quá, chưa kịp ngỏ lời. Đêm nay nhìn sang bên kia sông, tao nhớ Hà Nội, nhớ mùa hoa phượng vĩ đường Lý Thường Kiệt da diết mày ạ..."
Nói rồi, nó khẽ đọc cho tôi nghe vài câu thơ vừa viết dở trên trang giấy thô ráp:
"Nếu ngày mai anh không về nữa / Trận địa Thành cổ gọi tên anh / Thì em ơi, xin đừng khóc nhé / Nhành hoa phượng vĩ vẫn thắm xanh..."
Giọng thằng Huy nghẹn lại. Ánh nến tù mù soi rõ chiếc huy hiệu Đoàn trên ngực áo nó đang khẽ rung lên theo từng nhịp thở dồn dập. Đêm đó, hai thằng sinh viên chúng tôi ngồi gục đầu vào nhau, kể cho nhau nghe về những ước mơ hoài bão sau ngày hòa bình, về cái giảng đường mái ngói cổ kính mà chúng tôi đã tạm biệt để ra đi.
Sáng hôm sau, trận đánh mở màn. Lòng sông Thạch Hãn dậy sóng bởi bom cày, đạn xới. Giữa làn mưa đạn xé trời, đại đội chúng tôi lao xuống dòng nước lạnh để qua sông. Một quả pháo tầm xa dội trúng đội hình vượt kích. Tôi nghe thấy một tiếng nổ xé lòng ngay bên cạnh, và khi mở mắt ra, tôi thấy Huy đã ngã xuống. Dòng sông Thạch Hãn cuộn sóng đã ôm trọn lấy thân hình của người chiến sĩ sinh viên hai mươi tuổi.
Tôi điên cuồng lao theo, chỉ kịp vớt được chiếc balô của nó đang trôi bồng bềnh trên mặt nước loang lổ vết máu và khói súng.
Chiều hôm đó, khi đã vào được công sự Thành cổ, tôi mở chiếc balô ướt sũng của Huy ra. Cuốn sổ tay da của nó thấm đẫm nước sông, những dòng mực xanh nắn nót viết cho Thùy đã bị nhòe đi một nửa, loang lổ một màu xanh tím buồn bã. Bài thơ tình của gã sinh viên khoa Văn mãi mãi dừng lại ở một câu thơ viết dở, chưa bao giờ và có lẽ không bao giờ gửi được đến tay người con gái ở hậu phương Hà Nội.
Tôi ôm cuốn sổ tay vào ngực, nước mắt hòa chung với bùn đất trên mặt. Huy đã nằm lại với dòng sông, nhưng tình yêu trong trẻo, lãng mạn và lý tưởng kiên cường của một người lính sinh viên năm ấy thì đã hóa thân vào từng con sóng Thạch Hãn, trở thành một khúc ca bất tử của một thời hoa lửa. Chiếc huy hiệu Đoàn của tôi từ ngày hôm đó như mang theo cả ước mơ dở dang của Huy, tiếp sức cho tôi đi tiếp chặng đường dài phía trước.



