ĐÊM TRĂNG RẰM NA NÁT
Câu chuyện hồi tưởng về những đêm trăng rằm giữa bom đạn – khi thanh niên xung phong vùng Tây Bắc lặng lẽ tụ họp bên suối, thắp lửa nhỏ, kể chuyện cổ tích dân tộc Thái, hát then và cầu nguyện cho đồng đội, cho miền Nam, giữa lòng kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1967-1969), dựa trên sự kiện lịch sử thực tế về đời sống tinh thần phong phú, giữ gìn văn hóa dân tộc của lực lượng thanh niên xung phong địa phương tại vùng Mường Lay - Lai Châu, với giọng văn chân thực, xúc động, khắc họa sức mạnh của tr
Tôi vẫn hay trở về bên suối Na Nát mỗi khi trăng rằm sáng tỏ, ngồi lặng trên bờ đá nghe tiếng nước reo mà lòng chợt dâng trào ký ức về những đêm trăng giữa bom rơi, nơi tuổi trẻ chúng tôi đã dùng ánh trăng và tiếng hát then để giữ lửa hồn dân tộc giữa núi rừng Tây Bắc. Sinh năm 1947, ở chính Bản Na Nát - Na Lay này, tôi lớn lên giữa những điệu xòe và lời then cổ, nghe tiếng suối đêm và tiếng gọi Tổ quốc từ những buổi họp bản. Năm 1967, khi giặc Mỹ đánh phá ác liệt, tôi tình nguyện gia nhập Đại đội C177 Thanh niên xung phong ngay tại quê nhà. Lúc đó tôi 20 tuổi, mái tóc còn buộc gọn, lòng vẫn mang theo lời ru của mẹ và điệu then của cha.
Những đêm trăng rằm giữa chiến tranh, chúng tôi không dám nhóm lửa lớn sợ lộ vị trí, chỉ thắp một ngọn lửa nhỏ trong hốc đá bên suối, quây quần thì thầm. Đó là lúc chúng tôi kể chuyện cổ tích Thái về nàng Then, về chàng chải, về những chiến binh anh hùng xưa, rồi khẽ hát then cầu nguyện cho đồng đội đang ở tiền tuyến, cho miền Nam ruột thịt sớm được giải phóng. Tiếng then nhỏ nhẹ hòa với tiếng suối, át đi tiếng bom xa xa, như lời ru của quê hương giữa khói lửa. Tôi nhớ rõ một đêm trăng rằm năm 1968, sau trận bom B-52 rải thảm, cả đội mệt mỏi, đồng đội hy sinh, chúng tôi ngồi bên suối, một chị lớn tuổi hát then kể chuyện “Sơn Tinh Thủy Tinh” phiên bản Tây Bắc, rồi cả đội khẽ hát theo, nước mắt lăn dài nhưng lòng thêm vững. Ánh trăng chiếu xuống suối lấp lánh, như Bác Hồ đang nhìn chúng tôi, động viên chúng tôi tiếp tục.
Gió núi lạnh buốt, sương đêm ướt đẫm áo, nhiều anh em sốt rét run người, chất độc da cam khiến mắt mờ, da nổi mẩn, nhưng quanh ngọn lửa nhỏ, chúng tôi vẫn kể, vẫn hát, vẫn cầu nguyện. Chúng tôi chia nhau từng miếng xôi nếp nương, từng quả chuối rừng, động viên nhau: “Trăng rằm còn sáng, hồn dân tộc còn sáng, miền Nam sẽ về”. Những đêm ấy đã giúp chúng tôi giữ gìn bản sắc, giữ lửa tinh thần, để không bao giờ quên mình là người Thái, là người Việt Nam.
Đến năm 1969, khi tôi xuất ngũ, mang theo kỷ niệm chương và những vết sẹo chiến tranh, tôi trở về Bản Na Nát, thấy suối vẫn reo, trăng vẫn tròn, nhưng biết bao đồng đội đã nằm lại dọc suối chúng tôi từng ngồi hát then. Giờ đây, ở tuổi già, ngồi bên suối Na Nát dưới trăng rằm nghe gió thổi qua rừng, tôi kể lại cho con cháu nghe về những đêm ấy. Chúng tôi chỉ là những thanh niên vùng cao bình thường, nhưng đã dùng tiếng hát then, ánh trăng và ngọn lửa nhỏ để giữ hồn dân tộc, để đền ơn Tổ quốc. Lực lượng Thanh niên xung phong – những bóng hoa lửa thầm lặng dưới trăng rằm Na Nát – mãi là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Tôi mong các cháu sẽ giữ gìn hòa bình hôm nay, noi gương cha anh, để suối Na Nát mãi reo, non sông mãi vững vàng, trường tồn.



