Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

ĐÊM TRƯỚC CUỘC TỔNG CÔNG KÍCH VÀO MƯỜNG THANH

Đoạn trích kể về những trải nghiệm vừa bi kịch, vừa mang tính nhân văn sâu sắc của một đơn vị vây lấn trong đêm 30 tháng 4 năm 1954, ngay trước thềm cuộc tổng công kích vào trung tâm Mường Thanh. Tác giả đã tái hiện chân thực nhịp sống chiến trường với những hoạt động đột nhập, cắt đứt chi viện và tranh đoạt dù tiếp tế của địch trong lòng "chảo lửa" Điện Biên. Nổi bật trong ký ức là hình ảnh "thằng mù cõng anh què" đầy mưu trí của chiến sĩ trẻ tên Bút, sự hy sinh đầy tiếc nuối của người lính "gi

Lai Châu04/03/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, tôi chiến đấu trong đội hình Đại đoàn 308. Sau khi tham gia cuộc tiến công thần tốc, bất ngờ sang Thượng Lào, cuối tháng 2 năm 1954, đơn vị tôi trở lại Điện Biên Phủ, ém quân ở cánh rừng phía tây cách Mường Thanh khoảng 5 km.

Trong đợt đầu chiến dịch, sau chiến thắng Him Lam và đồi Độc Lập, đại đội tôi tham gia bức hàng đồn Bản Kéo. Sang đợt 2, chúng tôi tham gia xây dựng trận địa tiến công và bao vây địch, lần lượt tiêu diệt các cứ điểm 106, 206; khống chế sân bay Mường Thanh, chi viện cho Tiểu đoàn Nguyễn Quốc Trị đánh địch phản kích. Từ trung tuần tháng 4, tham gia phong trào bắn tỉa, tranh đoạt dù tiếp tế với địch, xiết chặt vòng vây, dồn quân địch vào cảnh khốn cùng.

Trong những ngày đầu chiến dịch, đại đội tôi tham gia vây lấn, bức hàng đồn Bản Kéo. Sang đợt 2, cho đến đêm trước cuộc tổng công kích, đêm 30 tháng 4 năm 1954, Đại đội 399 đã được bổ sung đầy đủ quân số và vũ khí nhưng chỉ còn một phần ba là những gương mặt cũ có mặt từ đầu chiến dịch, còn lại là những người mới được bổ sung về đại đội qua nhiều đợt. Đợt gần nhất có 5 người vừa về đại đội ngày 26 tháng 4, số về trước đều trở thành lính cũ. Chiến trường này, anh em mới về đại đội chỉ qua năm bảy ngày đêm ra trận cùng đơn vị là trưởng thành.

Hôm ấy, như thường lệ, đại đội xuất quân lúc 5 giờ chiều. Nhiệm vụ vẫn như đêm hôm trước là đột nhập vào sâu các vị trí địch ở phân khu trung tâm Mường Thanh, cụ thể là giữa hai đồn 311A (Huyghette 5) và 311B (Huyghette 4), ngăn chặn mọi hành động di chuyển, ứng cứu, tiếp tế của địch cho các đồn ngoại vi và đoạt dù tiếp tế thu chiến lợi phẩm.

Từ chỗ trú quân ra đến bìa rừng dài hơn một cây số, trời vẫn còn sáng, chúng tôi tranh thủ đi nhanh theo đường hào trục, rẽ sang đường nhánh hào bộ binh tiến về phía trung tâm tập đoàn cứ điểm. Nhánh hào bộ binh hẹp hơn đường hào trục, có đoạn vượt qua địa hình trũng thấp, bùn đất còn nhão nhoét sau mưa. Trời tối dần, tốc độ tiến quân chậm lại, mất cả tiếng đồng hồ chúng tôi mới đi được hơn nửa đoạn đường. Đêm cuối tháng, những vệt đạn lửa nối đuôi nhau lao vun vút trong bầu trời tối đen. Chiến trường không lúc nào ngơi tiếng súng, hết vang lên tiếng tiểu liên lại một tràng đại liên, khẩu bốn nòng 12 ly 7 của địch chốc chốc bắn như vãi đạn, xen kẽ là những phát súng cối 60 ly, 82 ly...

Nghe tiếng rít của viên đạn cầu vồng đang lao tới, tôi chỉ kịp cúi thấp người thì nó đã nổ tung, lọt vào đường hào khúc cuối đội hình đại đội làm ba chiến sĩ ta thương vong. Đã có kinh nghiệm xử lý, chúng tôi chỉ mất mươi phút sơ cứu thương binh rồi đơn vị tiếp tục hành quân. Tôi phụ trách việc cáng đưa ba chiến sĩ thương vong đó về hậu cứ, bàn giao xong lại dẫn anh em tải thương đuổi theo đại đội.

Quá nửa đêm, chúng tôi tới khe suối cạn nơi tối qua đại đội tập kết chỉ cách hầm Đờcátxtơri hơn ba trăm thước. Đến đây, chúng tôi phải vượt lên cánh đồng, theo một đường dây dù trắng do anh em trinh sát rải ra để dẫn đường, đi tiếp mấy chục thước nữa tới chỗ đại đội đang hoạt động. Tại đường hào, tôi đã thấy 5 tên tù binh vừa bị ta bắt đang ngồi co ro. Trận đánh diễn ra trước đấy hơn một giờ đồng hồ, khi đại đội vừa chiếm lĩnh trận địa thì một trung đội địch lò dò đến. Bọn địch chuyển đồ tiếp tế từ đồn 311B theo đường hào dẫn sang đồn 311A, đến đây chúng bị đại đội tôi chặn đánh, thương vong gần một nửa, phải rút lui.

4 giờ sáng. Đại đội bắt đầu rút quân. Một tổ ba người do tiểu đội trưởng Đăng phụ trách được cử dẫn tù binh ra trước. Đến 4 giờ 30 phút, toàn đại đội ra đến nơi tập kết, số đồ tiếp tế của trung đội địch tháo chạy bỏ lại với một dù hàng toàn đạn đại bác 105 ly đủ làm cho mọi người oằn vai mà vẫn hào hứng. Nhưng không thấy tổ Đăng và 5 tên tù binh đâu cả. Đường về xa lại qua đồn địch nên đại đội phải rút quân. Tôi cùng một tổ ba người ở lại chờ đón tổ Đăng. Thời gian không còn nhiều, chúng tôi chia nhau ra tìm quanh vẫn không thấy. Tôi đang phân vân tìm cách xử trí thì thoang thoảng nghe trong gió như có tiếng người. Tiếng gọi nhỏ và yếu ớt nhưng khiến tôi vui mừng khôn xiết chạy vội đến. Và một hình ảnh bất ngờ hiện ra trước mắt tôi: một tù binh ngụy cõng chiến sĩ Bút trên lưng đang lò dò bước. Hỏi ra mới biết họ bị lạc vào bãi mìn. Chúng tôi tìm đến thì thấy một cảnh thương tâm: toàn bộ 4 người của ta và 5 tù binh đều bị thương vong nằm la liệt. Hóa ra đêm qua, khi rút về ta sơ suất quên không thu sợi dây dù dẫn đường, ban ngày địch phát hiện được, chúng chuyển đầu dây phía suối cạn sang bãi mìn làm cho tổ của Đăng bị lạc. Đã thế khi mìn nổ, bọn tù binh lại chạy tán loạn nên dẫn đến hậu quả bi thảm này.

Vất vả lắm chúng tôi mới chuyển được hết 4 đồng chí thương vong về tới chỗ tập kết rồi nhìn nhau không biết làm gì hơn. Không có cáng, cũng không thể tiếp tục cõng thương binh về đơn vị được. Trời mỗi lúc mồi sáng. Phương tiện thông tin liên lạc với đơn vị không có. Đến nước này tôi đành đi thám sát địa hình rồi dẫn từng chiến sĩ tới từng vị trí để chuẩn bị cho một ngày chiến đấu bảo vệ thương binh trong lòng địch. Vừa xong thì từ trong sương mù, chỗ đầu đường hào bộ binh nối ra suối cạn xuất hiện bộ phận cáng thương của đại đội trở lại đón, chúng tôi mừng quá sức tưởng tượng, như gặp được thiên thần hộ mệnh.

Trở về, chúng tôi đi theo đường hào bộ binh, được một đoạn, thấy chậm quá, tôi cho anh em leo lên trên cánh đồng cứ ven đường hào mà chạy. Chiến trường lúc này im tiếng súng. Sương mù đã lên cao. Chúng tôi phải khiêng cáng nên dù chạy cũng không thể nhanh được như ý muốn. Và một điều lạ nữa trong đêm nay lại xảy ra: bọn địch trong đồn 311A phía bên phải gần đó, sau một đêm chui dưới hầm hào căng thẳng đang leo lên mặt đất để tận hưởng không khí trong lành và không có tiếng súng của buổi sớm mai. Tôi thấy rõ chúng đứng lổn nhổn trên một nắp hầm ụ súng giơ tay chỉ trỏ chúng tôi, nhưng không có một tiếng súng nào vang lên cả.

Hơn 50 năm sau chiến thắng Điện Biên Phủ, nay nghĩ lại, tôi thấy mình nhớ một quên mười. Trong “một nhớ” đó, có đêm 30 tháng 4 năm 1954, một đêm hoạt động bình thường thậm chí có nhiều xúi quẩy của đại đội 399 song vẫn để lại những hình ảnh không thể phai mờ trong tâm trí tôi.

Đó là hình tượng chiến sĩ Bút (bị thương ở chân) cưỡi trên lưng một tên tù binh (bị đất cát văng vào mắt), chỉ đường cho nó đi tìm về đơn vị (anh em đùa gọi là “thằng mù cõng anh què”). Năm đó Bút mười bảy tuổi, quá trẻ để nghĩ ra cách thoát hiểm thông minh tuyệt vời đến thế!

Đó là kỷ niệm với tiểu đội trưởng Trần Đăng (em đồng chí Trần Trác, một chính ủy trung đoàn). Đầu chiến dịch, Đăng còn là một nhân viên văn phòng phụ trách quân lực của đại đội, năm lần bảy lượt anh xin được làm lính xung kích và đã tỏ rõ khả năng đầy triển vọng.

Trái lại, Hòa (một trong ba chiến sĩ thương vong hồi đầu đêm) đã ba mươi tuổi, thuộc lớp “già” (cả đại đội lúc đó chỉ có ba người đến tuổi này). Anh vốn nhát gan, ra trận lần đầu, Hòa sợ đến phát ốm, nằm lì trong hầm hậu cứ mấy ngày liền. Chiều 30 tháng 4, anh trang bị chỉnh tề đến gặp đại đội xin ra trận. Và quả đạn súng cối của địch lọt hào đã sát hại anh. Trong di vật của Hòa có lá thư viết sẵn gửi vợ ở huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội) kèm theo mảnh giấy với dòng chữ: “Nếu tôi có hy sinh vì Tổ quốc, hãy gửi thư này cho vợ tôi”.

Với việc quân địch ở đồn 311A đứng nhìn chúng tôi cáng thương chạy ngay trước mặt mà không bắn, theo tôi hoàn toàn không phải vì địch sợ ta bắn trả mà là do tâm trạng mong được sống yên bình đang nung nấu trong lòng họ. Họ đâu biết rằng ngay đêm ấy (1-5-1954), Trung đoàn 88 tấn công tiêu diệt đồn 311A và ba hôm sau, Trung đoàn 36 tiêu diệt đồn 311B. Ba ngày sau nữa, 17 giờ 30 phút ngày mùng 7 tháng 5 năm 1954, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ thất thủ, toàn bộ những người còn sống sót trong bọn họ đều gặp nhau ở trại tù binh. Lá cờ đỏ sao vàng thêu hàng chữ “Quyết chiến Quyết thắng” tung bay trên nóc hầm Đờcátxtơri, đánh dấu sự đổi đời và mong muốn trở về với vợ con của những người lính Pháp đã đến lúc trở thành hiện thực.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn