Đêm Vị Xuyên – Dấu chân trong sương mù
Đêm Vị Xuyên – Dấu chân trong sương mù
Bác Nhung dừng lại một nhịp, giọng trầm xuống khi nhắc đến Vị Xuyên – hai tiếng đủ khiến những người lính năm xưa lạnh sống lưng.
Tháng 5 năm 1981, chiến sự biên giới bước vào giai đoạn ác liệt. Chiều ngày 16/5/1981, đơn vị bác nhận lệnh vác đạn cối vào trận địa. Mỗi người gùi trên vai một quả đạn 120mm – nặng trĩu cả thân người lẫn số phận. Trong lòng những người lính trẻ vừa háo hức ra trận, vừa nén chặt nỗi lo âu. Trước giờ hành quân, mấy anh em hậu cần khe khẽ hát tiễn – bài hát nhỏ thôi mà nghe như lời chào tạm biệt.
Đoàn quân xuất phát từ 4 giờ chiều, băng rừng, vượt núi. Đạn pháo từ phía Trung Quốc bắn dữ dội suốt dọc đường, như trút xuống không tiếc tay. 1 giờ sáng, cả đội hình dừng lại giữa ánh trăng mờ, sương núi dày đặc đến mức đứng cách nhau vài mét cũng không nhìn rõ mặt người.
Bất ngờ, tiếng súng nổ sát bên tai, đạn xé gió sàn sạt trên đầu. Không xác định được hướng địch. Chỉ huy ra lệnh khẩn: triển khai đội hình, đưa đạn lên trận địa. Bác và anh em lăn vội xuống một hố pháo, chờ sương tan bớt rồi tiếp tục nhiệm vụ.
Giao đạn xong, đơn vị được lệnh rút về. Trên đường rút, đạn vẫn vèo vèo bay qua. Bác ghìm súng, bắn về phía có tiếng động, chỉ nghe tiếng quát, tiếng kêu hỗn loạn trong màn sương đặc quánh. Không biết có diệt được địch hay không – chỉ biết mình còn sống để rút lui. Khi địch ngừng bắn trả, lệnh rút hoàn toàn được ban ra. Nhiệm vụ của họ là tải đạn, gặp địch thì đánh, không truy kích.
Từ 1981 đến 1984, bác cùng đồng đội trải qua nhiều trận đánh khác nữa – ác liệt, dai dẳng, mất mát. Nay tuổi cao, trí nhớ không còn trọn vẹn, bác hẹn sẽ kể tiếp vào một dịp khác.
Câu chuyện khép lại. Tôi nhìn người cựu chiến binh tóc đã bạc, sống hơn 40 năm giản dị, lặng lẽ, chưa bao giờ tự nhận công lao. Những dòng bác viết, những lời bác kể hôm nay chỉ với một mong muốn:
thế hệ trẻ hiểu rằng biên cương này được giữ bằng máu, bằng tuổi xuân của cha ông – và trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc chưa bao giờ là chuyện của quá khứ.
Câu chuyện 3. Vị Xuyên,
Trong chuyến thăm quan học tập cùng các bác Hội Cựu chiến binh xã Yên Phú, tôi may mắn được tham gia và nghe được các câu chuyện lịch sử. Hôm đó đúng vào ngày "Giỗ trận Vị xuyên" 12/7. Lúc đó trong đoàn thăm quan có hơn 30 đồng chí Cựu chiến binh vào thắp hương tại Nghĩa trang liệt sỹ Vỵ Xuyên, sau đó đoàn tiếp tục di chuyển qua những đoạn đường mới quanh co đến các đền thờ liệt sĩ mặt trận Vị Xuyên. Tất cả đều khang trang, đặc biệt ấn tượng là tấm bia khắc câu nói nổi tiếng của anh hùng, liệt sĩ Nguyễn Viết Ninh “Sống bám đá chiến đấu, chết hóa đá, trở thành bất tử” đã được khắc ghi. Qua các câu chuyện, bác Nguyễn Tiến Nhung, kể lại
Năm 1984, Trung Quốc tập trung một lực lượng quân đội lớn lên đến 50 vạn quân, tiến hành cuộc chiến tranh lấn chiếm biên giới phía Bắc nước ta, trong đó tập trung vào một số điểm mà chiến trường Vị Xuyên là nơi chiến trường ác liệt nhất với những địa danh đã đi vào tâm khảm nhiều người như "cối xay thịt", "thác gọi hồn", "ngã ba cửa tử",“lò vôi thế kỷ”...
Tôi nghe câu chuyện có hỏi lại các bác: Tại sao lại gọi là " Lò vôi thế kỷ"? Từ 17.2.1979 đến 18.3.1979 là cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ nhất của Trung Quốc diễn ra ở 6 tỉnh phía Bắc, còn đây là cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai kéo dài gần 1.800 ngày từ năm 1984 đến năm 1989 ở Vị Xuyên. Đây là cuộc chiến quy mô nhất (sau 30.4.1975) khi địch huy động hơn 50 vạn quân, hơn 20 sư đoàn, hơn 177 trung đoàn bộ binh, 4 sư đoàn pháo binh...; ác liệt nhất khi mỗi ngày địch bắn vào đất Việt Nam từ 3 vạn đến 5 vạn viên đạn pháo lớn, có đợt 3 ngày liên tục, chúng bắn tới 15 vạn viên pháo, tổng cộng 5 năm địch đã bắn hơn 1 triệu 800.000 viên đạn pháo lớn vào. Những ngọn núi đá trong khu vực tác chiến vỡ trắng như miệng các lò vôi, nên quân ta gọi là “lò vôi thế kỷ”
Để chuẩn bị cuộc chiến tranh lần thứ hai trong vòng 10 năm (1979-1989), Trung Quốc đã chuẩn bị rất kỹ càng, từ việc nâng cao trình độ, kỹ thuật chiến đấu của pháo binh, của bộ binh đến việc xây dựng đường xá, chuẩn bị một khối lượng vũ khí, đạn được (chủ yếu là đạn pháo) rất lớn tập kết tại khu vực biên giới, với âm mưu sử dụng sức mạnh vượt trội về hỏa lực để lấm chiếm biên giới phía Bắc nước ta.
Đã lâu không tác chiến với quân Trung Quốc, đồng thời không đánh giá hết những tiến bộ của Trung Quốc về chiến thuật quân sự và sức mạnh về vũ khí trong thời gian từ năm 1979 đến năm 1984, cấp chỉ huy đã áp dụng phương thức chiến đấu không phù hợp, dẫn đến những thiệt hại to lớn.
Ngày 12/7/1984, các đơn vị chủ lực của Sư đoàn 312, 316 và 356 được lệnh dàn quân đánh với quy mô lớn trước quân Trung Quốc. Tuy nhiên, sự chênh lệch về thế trận, địa hình cũng như vũ khí khiến bộ đội ta thiệt hại nặng với 600 người hi sinh và hơn 1.200 người bị thương, Sư đoàn 356 mất sức chiến đấu. Gần 2.000 thương vong của bộ đội trong một ngày có lẽ là rất hiếm nếu không muốn nói là lần đầu tiên trong cuộc chiến chống xâm lược và điều đó đã xảy ra. Ngày 12/7/1984 đi vào lịch sử chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc chống Trung Quốc xâm lược lấn chiếm là ngày có số lượng bộ đội thương vong cao nhất. Ngày đó trở thành “Ngày giỗ trận” của Sư đoàn 356 trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc Tổ quốc.



