ĐẾN VỚI TRUNG ĐOÀN ĐỒNG NAI
Giữa lúc chiến trường Đông Nam Bộ vô cùng ác liệt, tác giả được điều về làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn Đồng Nai, chia tay Trung đoàn 4 và người vợ đang mang thai sáu tháng với nhiều trăn trở. Trong hoàn cảnh thiếu đói, bị địch đánh phá liên tục, ông cùng Đảng ủy Trung đoàn chủ trương đưa đơn vị áp sát vùng dân cư, xây dựng hầm bí mật, bám dân, bám đất, vừa chiến đấu vừa giải quyết hậu cần để giữ vững lực lượng. Nhờ cách làm sáng tạo, Trung đoàn từng bước vượt qua giai đoạn khó khăn nhất, duy t
Trong lúc chiến trường đang rất ác liệt, tôi nhận được điện của R về T1 nhận nhiệm vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn Đồng Nai. Út Thắng thay tôi làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 4 từ tháng 9 năm 1969.
Rời khỏi chiến trường Bà Rịa - Long Khánh, rời khỏi Trung đoàn 4 thân yêu lúc này, tôi không muốn tí nào. Ngoài cái chung còn cái riêng. Vợ tôi đang có thai 6 tháng, tuy không ở cùng đơn vị nhưng thỉnh thoảng tôi còn gặp, còn chăm lo được chút ít. Bây giờ trong lúc ác liệt tôi lại đi xa, bụng bầu ngày một lớn, thật rối!
Gặp vợ tôi ở sông Gia Ui, bắc đường số 1, vợ tôi có thai. Anh Hai Sỹ (Sư đoàn phó Sư đoàn 5) gửi Tuyết lại cơ quan Tỉnh đội Bà Rịa, chỗ anh Út Đặng - Tỉnh đội trưởng. Nhìn vợ bụng to, đi lại khó khăn, tôi quặn lòng.
- Anh có quyết định về làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn Đồng Nai, trên Bình Dương.
- Anh cứ đi. Em ở đây có anh em giúp, lo gì.
Đêm ấy, tôi không tài nào chợp mắt. Tôi bàn với Tuyết mọi tình huống có thể xảy ra và cách giải quyết. Nếu sanh con trai đặt tên Nguyễn Nam Hùng, con gái thi đặt tên Nguyễn Tuyết Hà. Sáng ra, tôi gặp chị út Đặng và mọi người thân quen trong đơn vị gửi gắm Tuyết rồi lên đường về T1với liên lạc của tôi - em Thanh, cùng một trinh sát - em Hà.
Thanh và Hà còn rất trẻ, mới 18 -19 tuổi, đã đi với tôi nhiều năm. Cả hai đều lanh lợi, dũng cảm, tháo vát. Em Thanh quê Trà Vinh, vào bộ đội năm 16 tuổi, đi lên miền Đông với Tiểu đoàn 265 (Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 4). Thấy em nhỏ, tôi lấy em làm liên lạc từ lúc mới về Trung đoàn. Em lanh lẹ, dũng cảm, thương và giúp tôi nhiều việc trong chiến đấu và sinh hoạt. Em Hà là trinh sát của Trung đoàn, quê ở Bến Cát - Bình Dương, là một trinh sát trẻ giỏi. Em Thanh hiện nay là Thương binh 2/4, về quê ở Trà Vinh. Em Hà đã hy sinh ở Chiến trường CPC.
Từ sông Gia Ui, ba người cắt rừng về căn cứ T1 vùng Xà Cót, Mã Đà. Ra đi mà lòng nặng như chì. Sau được tin ngày 31 tháng 12 vợ tôi sanh con trai, do vợ anh Út Đặng đỡ. Sanh trong đêm thứ nhất đến đêm sau, Tuyết phải bồng con lội suối chạy tránh B52. Sau đó, các anh ở tỉnh đội đưa Tuyết về Trường huấn luyện quân sự lúc này có anh Ba Nam - Chính ủy Trung đoàn 4 về phụ trách.
Anh Ba Nam rất lo lắng chăm sóc cho vợ tôi. Trong một lần Trường Quân chính Hành quân từ Gia Ray về Núi Ông (Bình Thuận) phải qua đường số 3 Trà Tân, vợ tôi lưng mang bồng đựng đồ cho con, ngực dùng tấm vải dù đai con đi theo đoàn; khi vượt đường số 3 đạp trái sáng, đoàn chạy dạt vào rừng, con khóc, tình hình rất nguy hiếm. Anh Mai Viết Thiềng, là cán bộ của Trường đến bảo Tuyết: “Chị bóp mũi cho nó chết đi (cháu Hùng con tôi bây giờ), nếu không cả đoàn chết hết! Vợ tôi cứ khóc, không tài nào làm được. May quá, anh Ba Nam nghe thấy, anh đến quát: “Anh có sợ thì tách đoàn đi một mình”. Rồi anh nói với Tuyết: “Em không được giết con..." khi qua sông Đạt Oay, anh bọc cháu Hùng trong tấm nilon đội lên đầu đưa qua sông. Đồng đội, đồng chí tôi là như vậy. Tôi, gia đình
Tôi, đặc biệt là cháu Hùng nhớ ơn anh suốt đời! Sau này anh Ba Nam là Đại tá Chỉ huy phó Chính trị tỉnh Bình Dương, nay nghỉ hưu ở Bà Rịa - Vũng Tàu, anh đã ngoài 80 tuổi.
Út Thắng - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 4 cũng thường cho anh em mang đường, sữa đến cho vợ tôi. Trong lúc gian khổ, đói cơm... nghĩa tình anh em, đồng chí đã làm ấm lòng tôi ở xa nhiều lắm!
Rừng cây miền Đông những năm 60 - 61 là rừng già, cây cao nhiều tán, bây giờ trơ trọi bên trên không lá vì bị chất độc hóa học, bên dưới cây con mới mọc lên lúp xúp như rừng chồi. Bom pháo cày nhiều lắm, cây ngã ngổn ngang xen lẫn với rừng chồi mới mọc rất khó đi, lại phải dò đường tránh biệt kích, ba ngày sau tôi mới về tới T1.
Vào gặp Bộ Tư lệnh. Các anh hai Hồng Lâm, Bùi Khánh Ngươn - Phó Tư lệnh mừng quá đãi cho một bữa cơm no. Có một bữa cơm no lúc này là quý lắm! Sau bữa cơm, anh hai Hồng Lâm bàn luôn công việc:
- Tình hình chung, Năm Hưng đã biết. Riêng Trung đoàn Đồng Nai đang rất khó khăn. Anh Chín Chước (Trung đoàn trưởng) bị địch bắt trong Tết Mậu Thân, tìm mãi chưa có người thay. Bây giờ Năm Hưng về, giữa lúc Trung đoàn đang thiếu đói, phải rút về tận An Long - Phước Sang, Phú Giáo, Trung đoàn bộ thì ở Suối Thôn. Năm Hưng về, cùng anh em nhanh chóng củng cố trung đoàn, tìm cách giải quyết lương thực, sớm mở hoạt động xuống nam - bắc đường 16.
Sáng hôm sau, anh Bùi Khánh Ngươn cùng đi với tôi xuống Trung đoàn. Từ T1 cắt rừng đi phải 2 ngày mới tới. Sáng tới, chiều anh Ngươn họp ngay Đảng ủy Trung đoàn gồm các anh Tư Sâm (Chính ủy), anh Tân (Tham mưu trưởng) và các anh trong Đảng ủy. Họp Đảng ủy ngày thứ nhất mỗi người chỉ được ăn một bát cơm một bữa, ngày thứ hai cả Đảng ủy ăn cháo. Tối đến, hai em Thanh và Hà gặp tôi:
- Anh Năm! Sớm mai hai em đi đào củ mài.
Củ mài các em đào được đủ cho anh em trong Ban Chỉ huy Trung đoàn cùng ăn cả ngày. Về phần nhiệm vụ hoạt động của Trung đoàn rất nhiều bàn cãi. Là chủ lực làm sao thọc sâu? Trụ làm sao? Đánh làm sao? Tôi gút lại:
- Phải vào ấp chiến lược mua gạo. Phải áp sát ấp chiến lược mới liên lạc được với dân. Phải thọc xuống nam đường 16, xuống Vĩnh Tân, Bến Xoài, Chánh Phú Hòa mới đánh được địch và giải quyết được hậu cần.
Và tôi kết luận:
- Bước 1, ép sát ấp chiến lược Bình Mỹ, Bình Cơ ở phía bắc đường 16 liên lạc với dân, đánh địch bung ra và đêm vào ấp chiến lược tải gạo. Đồng thời ở ven rừng này học đào hầm bí mật, tập nằm hầm bí mật.
- Bước 2, tổ chức thành từng tổ 3 người, mỗi trung đội chọn ra 2 đến 3 tổ thọc xuống Vĩnh Tân đào hầm bí mật, ngày ở hầm, dân vào liên lạc, đêm lên thọc vào ấp chiến lược Vĩnh Trường (vùng sâu) đánh và giải quyết hậu cần.
Tình hình quá khó khăn về lương thực mà đơn vị cứ rút sâu vào rừng càng không có lương thực. Anh em sẽ nhụt chí vì không đánh được giặc, lại đói thì đơn vị sẽ suy sụp.
Tôi hạ quyết tâm như vậy, Đảng ủy cũng đồng ý. Anh Bùi Khánh Ngươn nhất trí, thấy thế là hợp lý.
Từ đây, Trung đoàn tổ chức lần lượt “sâu đo”, xuống dần vùng sâu theo phương thức trên, bằng mọi cách liên lạc được với dân, đánh nhỏ, đánh lẻ thường xuyên. Dân phấn khởi vì thấy lực lượng vũ trang mình vẫn còn đây, không phải như địch tuyên truyền “đã tiêu diệt hết Việt cộng”.
Từ những tháng cuối năm 1969 đến cuối năm 1970, tuy vất vả, gian khổ nhưng Trung đoàn vẫn bám được chiến trường, vẫn bám được dân, giải quyết được vấn đề lương thực. Nhờ đó giải quyết tốt tư tưởng của anh em. Cũng trong những ngày này, lần đầu tiên trong đời, tôi nằm hầm bí mật.
Tôi đang ở vùng sâu Vĩnh Tân - Tân Uyên, hằng đêm chỉ đạo cho các tiểu đoàn hoạt động đột ấp chiến lược, diệt bọn tuần tiễu, kìm kẹp nhân dân và vận động giải quyết hậu cần cho Trung đoàn bước đầu có hiệu quả thì nhận được điện vượt cấp của Bộ Chỉ huy Miền "Về R nhận nhiệm vụ”.
Sau khi bàn giao các việc cho Trung đoàn, tôi về Bộ Tư lệnh T1 báo cáo và tìm hiểu Bộ Tư lệnh Miền ở đâu. Anh Hồng Lâm dùng năm đầu ngón tay chúm lại chỉ trên bản đồ:
- Trước tôi đi họp ở đây, Cà Tum. Bây giờ đã đánh mở biên giới Việt Nam - Campuchia, có thể về đây, Đầm Rayphong (tỉnh Kratié). Nếu không có thì sang Congpongthom.
Lúc này địch đánh phá chiến trường dữ dội bằng biệt kích, pháo, B52 hàng ngày. Anh Hồng Lâm có ý kiến:
- Về R, Năm Hưng phải đi vòng lên ngã ba biên giới, cắt về Kratié đã giải phóng mới đến Đầm Rayphong được.
Nhìn bản đồ thấy đường đi trên trăm cây số đường chim bay, phải đi hàng tháng mới đến R. Tôi đề nghị Bộ Tư lệnh T1 điện về Miền, nếu bố trí tôi về đơn vị nào điện xuống cho tôi về thẳng đơn vị đó. Bộ Tư lệnh Miền trả lời: “Cứ về R”, ký tên Năm Ngà. Anh Năm Ngà lúc này là Tham mưu trưởng Miền.
Tôi xin phép Bộ Tư lệnh T1 cho về thăm vợ tôi trước khi đi R. Từ Suối Linh - căn cứ T1 - tôi và hai em liên lạc cắt rừng đi về Tà Lài mất 3 ngày. Vào được căn cứ cửa khẩu Bà Rịa - Long Khánh ở Tà Lài thì mới hay vợ tôi vẫn ở trường quân sự tỉnh, trường đóng tận ngoài Núi Ông, Bình Thuận. Tôi nghĩ bây giờ mà ra ngoài ấy thăm vợ thì lấy gì ăn, một khi không bám vào cửa khẩu. Tôi viết thư gửi Ban chỉ huy Trường nhờ anh em đi lấy gạo đem về cho anh Ba Nam và cho Thanh, Hà đi theo để đưa vợ tôi xuống cửa khẩu. Anh Ba Nam tổ chức đưa vợ tôi đi.
Vợ tôi cho biết đã gửi cháu Nguyễn Nam Hùng về Hòa Long - Bà Rịa ở với bà ngoại rồi. Gặp nhau, mỗi ngày chỉ được 2 bữa cơm với cá hộp, thế cũng đã an ủi cuộc đời nhiều rồi.
Tuyết vẫn rất vững vàng động viên tôi yên tâm mà về R. Và vẫn một giọng điệu: “Có tập thể, em sẽ vượt qua tất cả. Anh khỏi lo!”.
Vợ chồng quyến luyến nhau được mấy ngày lại phải tạm biệt nhau. Lần ấy, Tuyết lại cấn thai con trai thứ của tôi, cháu Nguyễn Nam Hải bây giờ!


