Đi làm ruộng với nông dân
Bác sinh ra và lớn lên trong gia đình nhà nho, nhƣng là nhà nho có nguồn gốc nông dân. Thời gian dài từ tấm bé đến tuổi học trò Bác sống ở quê giữa những ngƣời nghèo khổ một nắng hai sƣơng ngoài đồng nên Ngƣời hiểu sâu sắc nỗi khổ, nỗi vất vả của ngƣời nông dân. Những việc của nghề nông đối với Bác cũng không có gì xa lạ. Thời kỳ hoạt động cách mạng ở nƣớc ngoài, khi Ngƣời đƣợc bầu vào Ban chấp hành Quốc tế nông dân, có ngƣời thắc mắc, hoài nghi vì Bác khai trong lý lịch là xuất thân nhà nho, trí thức. Nghề nghiệp chính là thuỷ thủ, họ e rằng Bác sẽ không có điều kiện để am hiểu các vấn đề nông dân. Sau khi bế mạc Đại hội nông dân, các đại biểu đi thǎm một nông trang, thấy nông dân đang lao động, Bác cũng xắn quần xuống giúp một nông dân đang làm ruộng, việc nhà nông đối với Bác không gì khó khǎn, trong khi các đại biểu nhiều ngƣời đang lúng túng; thì Bác làm nhanh nhẹn nhƣ một nông dân thực thụ, trƣớc con mắt thán phục của mọi ngƣời. Có ai biết một thời Bác ra đồng cùng ngƣời dân quê làng Sen làm lụng, hay những lúc đi trồng nho cùng những ngƣời nông dân nghèo khổ ở Bruklin nƣớc Mỹ. Trên mặt trận báo chí công luận, Bác là ngƣời viết nhiều về nông dân, vạch mặt tố cáo sự bóc lột sức lao động ngƣời nông dân của địa chủ cƣờng hào phong kiến, đẩy nông dân vào con đƣờng bần cùng bằng sƣu cao thuế nặng. Bác đã tìm ra và chính Ngƣời đã thực hiện cƣơng lĩnh giải phóng ngƣời nông dân bằng cuộc cách mạng Tháng Tám lịch sử. Ngƣời đã để lại một di sản có một không hai trong lịch sử loài ngƣời chân dung một lãnh tụ bên ngƣời nông dân… Ngay sau khi giành đƣợc chính quyền, tuy bận trǎm công nghìn việc Bác vẫn dành nhiều thời gian, không chỉ nhắc nhở các địa phƣơng đắp đê chống bão lụt, mà còn trực tiếp xuống tận các xã để đôn đốc, kiểm tra công việc. Biết tin đê sông Hồng ở khu vực Hƣng Yên, Thái Bình bị vỡ, Bác trực tiếp xuống kiểm tra việc khắc phục hậu quả để có biện pháp kịp thời cùng chính quyền địa phƣơng vận động giúp đỡ nhân dân vƣợt qua khó khǎn, Bác hỏi cặn kẽ có mấy ngƣời bị nạn, trƣớc hết phải lo cái ǎn để họ khỏi đứt bữa, sau đến nơi ở và ổn định sinh hoạt cho mọi ngƣời, tập trung nhân tài vật lực để đắp lại chỗ đê bị vỡ. Bác hứa khi nào đắp xong Bác sẽ xuống thǎm. Thế rồi, giữ đúng lời hứa, bốn tháng sau Bác xuống cắt bǎng khánh thành chỗ đê vừa mới đắp. Bác đi xem kiểm tra một lƣợt, nhìn chỗ giáp ranh đê mới đê cũ, Ngƣời nhắc nhở phải tǎng cƣờng gia cố mới an toàn. Bác vừa đi vừa nhún thử độ lún, Bác khen đắp nhanh nhƣng chƣa lèn chặt, cần tǎng cƣờng thêm lực lƣợng để đầm thật kỹ mới bảo đảm lâu dài. Thay mặt "Ban đời sống" mới nhà vǎn Nguyễn Huy Tƣởng đến báo cáo với Bác là hoạt động của Ban dựa trên 3 nguyên tắc: dân tộc, dân chủ và khoa học, nghe xong, Bác liền nói: "Trong đồng bào ta chƣa mấy ngƣời hiểu những từ chú nói mà hiện nay họ cần là cần cái này", vừa nói Bác vừa chỉ tay vào bụng, "phải có cái ǎn đã, nếu không có ǎn không làm gì đƣợc. Hoạt động của ban "Đời sống mới" cũng phải tập trung cái đó đã, vận động bà con "lá lành đùm lá rách", tǎng gia sản xuất, cứu đói". Hậu quả nạn đói nǎm 1945 nhƣ một bóng ma ghê rợn phủ lên cuộc sống đói rách của ngƣời nông dân, càng làm không khí ảm đạm khó khǎn thêm, trên cƣơng vị Chủ tịch nƣớc, Bác đi xuống các địa phƣơng nhƣ Ninh Bình, Thái Bình... để đôn đốc việc cứu đói, tổ chức tǎng gia sản xuất, đắp đê phòng chống thiên tai... Một lần trong cuộc họp, bàn chống đói, Bác nói: "Các chú biết không, ngƣời xƣa nói "dân di thực vi thiên", có đồng chí tƣởng Bác nói nhầm bèn chữa lại thƣa Bác "dân dĩ thực vi tiên chứ ạ", Bác cƣời và giải thích: "Bác nói "Dân dĩ thực vi thiên" ngƣời xƣa dạy "dân lấy cái ǎn làm trời", Đảng, Chính phủ phải lo cái ǎn cho dân không đƣợc để dân đói. Đó là Bác lấy lời của Lục sinh nói với Hán Cao Tổ "Nhà vua lấy dân làm trời, dân lấy cái ǎn làm trời". Bác dạy thật chí lý. Nǎm 1955, nghe tin lũ lụt lớn ở Kiến An, gây thiệt hại lớn về ngƣời và của cho nhân dân. Bác cho gọi đồng chí có trách nhiệm lên hỏi cụ thể. Bác hỏi, xã Hoà Nghĩa thiệt hại mấy ngƣời chết, nhà cừa trƣởng học bệnh xá bị đổ bao nhiêu, khi nghe báo cáo con số thiệt hại cụ thể, Bác rất lo lắng và rơm rớm nƣớc mắt nhất là biết có nhiều gia đình chết ngƣời và trôi nhà cửa. Bác cǎn dặn phải có phƣơng án tỷ mỉ khắc phục hậu quả thiệt hại. Ngƣời chỉ thị Tỉnh ủy phải trực tiếp chỉ đạo và dặn đi dặn lại "trƣớc hết phải lo cái ǎn, nơi ở cho ngƣời bị nạn, tuyệt đối không để một ngƣời bị đói". Cứ đến mùa nƣớc lũ, hay kỳ hạn hán Bác thƣờng trực tiếp xuống địa phƣơng tham gia "chống trời" cùng nhân dân. Nhớ lần Bác về công trƣờng Đại thuỷ nông Bắc-Hƣng-Hải, Bác xuống công trƣờng tham gia lao động nhƣ một ngƣời dân. Trên đƣờng đi, thấy một chị đang đẩy chiếc xe cút kít nặng nề lên dốc, Bác vội chạy đến đẩy giúp chị… Lần Bác về Hải Hƣng tham gia chống hạn với nông dân, nghe tin Bác về các đồng chí cán bộ tỉnh tổ chức đón Bác long trọng, Bác không hài lòng, Bác phê bình ngay: "Bác về là đi chống hạn chứ có phải đi chơi đâu mà đón tiếp". Bác ǎn mặc quần áo nhƣ một lão nông thực sự Ngƣời đi rất nhanh đến chỗ nhân dân đang đào mƣơng, Bác vội xắn quần xắn tay áo xuống cùng đào đất với bà con để lại phía sau các "quan cách mạng" trong những bộ quần áo bảnh bao. Cuối cùng tất cả cùng ào xuống đào đất với bà con theo gƣơng Bác. Bác không nói, không hô hào, nhƣng Ngƣời đã làm cuộc "cách mạng" cho "các quan" trƣớc muôn dân. Bác ǎn cơm chung với mọi ngƣời tại nơi đang đào mƣơng. Thấy ngƣời xới cơm, xới bát nào cũng vơi, Bác nói vui: " Chú xới cơm thế này thì công việc làm sao cho đầy đƣợc" Bữa ǎn có Bác thêm vui hẳn lên. Bác hỏi chuyện: "Các chú có biết nấu nƣớng không?". Mỗi ngƣời kể theo cách hiểu của mình. Bác thừa hiểu chẳng có ai ở nhà thực sự giúp vợ nấu ǎn cả, nên nghe nói nấu nƣớng sao thì kể vậy. Rồi Bác kể chuyện hồi xƣa Bác làm phụ bếp thế nào nên biết nấu nƣớng, Bác nói nghề nấu ǎn ai biết nấu kể là biết ngay, còn ai chỉ nghe hoặc nhìn thấy thì không thể bịp đƣợc ngƣời khác, vì kỹ thuật nấu ǎn quan trọng là chỗ này - Bác chỉ vào mũi, chứ không phải chỗ này - Bác chỉ vào mắt và tai. Bác nói tiếp, vì sao mọi ngƣời phải biết nấu ǎn là vì vừa giúp đƣợc "cô ấy" có thời gian học tập và nuôi dạy con cái, vừa rèn luyện mình, chữa cái bệnh hão, bệnh sĩ, bệnh gia trƣởng thâm cǎn cố đế, cho việc bếp núc là của đàn bà. Hơn nƣa khi tự mình nấu thì mình ǎn ngon hơn, thích ǎn món nào thì làm món ấy. Chuyện vui, nhƣng Bác giáo dục đạo đức con ngƣời, đạo đức cộng sản trong cán bộ. Bác lo lắng quan tâm đến sự tiến bộ của cán bộ từ những việc làm bình thƣờng nhất, nhƣng chính đó là những xuất phát điểm của đạo đức chân chính, mà mọi ngƣời cán bộ muốn dân tin thì rõi vào để tự xem xét, rèn luyện hoàn thiện mình. Bác về Hà Đông chống hạn, khi đến một con mƣơng chắn ngang đƣờng, đồng chí Chủ tịch tỉnh mời Bác đi vòng đến chỗ dễ qua hơn. Nhìn xuống thấy đồng chí Chủ tịch tỉnh đi đôi dày bóng lộn, Bác bảo: "Chú cứ đi đƣờng ấy" nói rồi, Bác cởi dép lội tắt qua cho nhanh để đến với nông dân đang tát nƣớc chống hạn. Sang bờ bên kia, Bác bảo mọi ngƣời cùng tát nƣớc giúp dân. Bác chỉ một thanh niên ǎn mặc bảnh bao cùng tát nƣớc với Bác, nhƣng đồng chí này không biết tát nƣớc, đồng chí Bí thƣ tỉnh đỡ lời: "Thƣa Bác, đồng chí này là nhà báo ạ". Bác cƣời và nói: "Nhà báo của nông dân thì phải biết lao động nhƣ nông dân thì viết mới đúng đƣợc". Mỗi ngƣời dân chúng ta ai cũng đƣợc xem hình ảnh Bác đang đạp nƣớc trên guồng chống úng, ghi nhận trong ta hình ảnh Bác hoà mình với nỗi vất vả một nắng hai sƣơng của ngƣời nông dân. Khắc sâu trong ta tâm niệm Chủ tịch nƣớc cũng là một công dân, một ngƣời lao động trong triệu triệu ngƣời không có gì cách biệt. Đó là hình ảnh đƣợc ghi lại vào nǎm 1960 Bác về chống úng tại xã Hiệp Lực. Vừa đạp guồng nƣớc, Bác nhắc nên lắp ổ bi vào trục để ngƣời đạp đỡ vất vả, mà nǎng suất cao hơn. Bác hỏi các cô thanh niên có biết hát đối đáp không, rồi Bác lẩy Kiều: "Trǎm nǎm trông cõi ngƣời ta, chống úng thắng lợi mới là ngƣời ngoan". Bác bảo các cô lẩy tiếp, các cô vì mải ngắm Bác nên không chuẩn bị không lẩy tiếp đƣợc chỉ biết vỗ tay, và xin mắc nợ với Bác. Bác nói: "Muốn lao động đỡ mệt và có sức mạnh, thanh niên nên tổ chức vǎn nghệ". Nǎm 1958, Bác về Nam Định dự Hội nghị "Bàn về sản xuất, nông nghiệp". Bác chǎm chú lắng nghe các bản báo cáo thành tích của các đơn vị. Bác chú ý bản báo cáo nói về cách làm các loại phân bón. Bác đứng lên nhìn khắp hội trƣờng và hỏi to: "Chú nào gánh bùn đổ-cho hai sào lúa có đây không?", không có ai đứng dậy. Một đồng chí cán bộ tỉnh uỷ báo cáo, là ngƣời nông dân đó không thuộc diện tham dự hội nghị này. Bác phê bình và yêu cầu cho ngƣời đó đến dự hội nghị ngay. Bác hỏi chị em phụ nữ ở đây có đội phân nữa không? Các đồng chí cán bộ tỉnh chƣa dám báo cáo Bác ngay, may có chị đại biểu nữ đỡ lời: "Thƣa Bác, chị em ở đây không quen gánh nên cái gì cung đội ạ", Bác dặn: "Nên tìm cách cải tiến vận chuyển bằng xe để đỡ cho chị em về lâu dài". Nǎm 1963, Bác về chống hạn ở Nghiêm Xuân (huyện Thƣờng Tín) hôm đó Bác đến sớm, đồng bào còn vắng, tiện đƣờng Bác xuống khu dân cƣ, hỏi thǎm dânBác vào một nhà dân thǎm và hỏi tết vừa qua gia đình đón, tết có vui không. Có cụ già hơn 60 tuổi thƣa với Bác là ǎn tết không vui. Bác hỏi vì sao, cụ kể lại gia đình từ xƣa có ngôi nhà gần đƣờng, vừa qua Huyện có lệnh đuổi bà đi để mở đƣờng không bồi thƣờng, cũng không chỉ cho gia đình chuyển đi đâu, vì thế gia đình ǎn tết không vui, ngƣời ra lệnh ấy là ông Chủ tịch huyện. Bác lắng nghe mà vẻ mặt không vui Bác bảo, làm ngƣời cán bộ nhƣ vậy là không xứng đáng không khác gì cƣờng hào xƣa. Sau đó Bác chỉ thị phải điều tra làm rõ ngay. Vị Chủ tịch kia bị kỷ luật. Lòng dân rất hả dạ và nhắc mãi chuyện đó nhƣ làm gƣơng cho cán bộ đối với dân phải làm gì. Hơn nữa hôm đó Bác tham gia chống hạn với dân, trời nắng to có đồng chí cầm ô che cho Bác, Bác bảo: "Dân chịu đƣợc thì Bác cũng chịu đƣợc, chú làm nhƣ Bác là ông quan thời xƣa". Trên đƣờng đi chống hạn giúp dân, Bác thấy đi trƣớc Bác có xe công an còi inh ỏi dẹp đƣờng, Bác cho dừng xe và lệnh cho xe công an dừng lại, Bác mới đi tiếp. Bác phê bình: "Bác xuống với dân để chống hạn mà các chú làm cho dân họ sợ thì xuống làm gì?". Những nǎm tháng cuối đời Bác, tuy sức khoẻ yếu nhƣng Ngƣời dành nhiều thời gian làm việc với các đồng chí phụ trách nông nghiệp. Họp Bộ Chính trị, hay các buổi làm việc về nông nghiệp Bác thƣờng nhắc bản Điều lệ Hợp tác xã. Bác bảo công nhân có ngày kỷ niệm thì nông dân cũng phải có ngày kỷ niệm. Nên lấy ngày ban hành Điều lệ Hợp tác xã làm ngày kỷ niệm cho nông dân. Bác dặn viết bản Điều lệ sao cho nông dân ít học cũng hiểu đƣợc. Sau khi đọc bản dự thảo, Bác nói đây là bản dùng cho cán bộ, còn đối với xã viên thì viết phải tóm tắt hơn, dễ hiểu hơn. Bác đọc và sửa chữa rất kỹ, có chỗ nào, chữ nghĩa cầu kỳ khó hiểu Bác đều sửa lại. Số thứ tự các chƣơng đánh số La mã, Bác sửa lại "Chƣơng một... hai...", sau đó Bác yêu cầu chuyển nội dung bản Điều lệ sang diễn ca phát trên đài phát thanh cho dân dễ thuộc, dễ nhớ, để làm theo.



