Đi qua dông bão thời gian
Đi qua dông bão thời gian
Theo sự chỉ dẫn của Đại úy Nguyễn Văn Huấn, Trợ lý cán bộ Trung đoàn 910 (Trường Sĩ quan Không quân, Quân chủng Phòng không - Không quân), chúng tôi tìm đến ngôi nhà nhỏ nơi mẹ Lê Thị Huệ đang sinh sống tại xã Tây Hòa, tỉnh Đắk Lắk.
Biết có khách tới thăm, khi chúng tôi đến đã thấy mẹ ngồi trước cửa, mắt nhìn ra khoảng sân như ngóng đợi đứa con xa trở về. Bước vào nhà, chúng tôi cúi đầu chào mẹ, đôi bàn tay gầy guộc, chằng chịt gân máu run rẩy nắm chặt tay từng người. Khuôn mặt của mẹ ngời lên vẻ đôn hậu, kiên cường của người con gái đất Phú Yên năm xưa.
Chị Nguyễn Thị Mỹ Trang - cháu dâu của mẹ, người ngày đêm kề cận chăm sóc bà, bùi ngùi chia sẻ: “Bà tôi cả đời chịu nhiều gian khổ, gánh chịu bao mất mát hy sinh nhưng chưa bao giờ than vãn một lời. Tuổi già có lúc nhớ lúc quên, nhưng hễ nhắc đến những ngày kháng chiến, nhắc đến ông, đến chị Siêm và các cậu là nước mắt bà lại rưng rưng…”.
Ngược dòng thời gian về những năm tháng chiến tranh, ngôi nhà của gia đình mẹ tại Phú Yên chính là cái nôi cách mạng, cơ sở nuôi giấu cán bộ an toàn. Bất chấp sự lùng sục gắt gao với những trận càn quét rát mặt của kẻ thù, mẹ vẫn kiên cường bám trụ, che chở biết bao chiến sĩ đi về hoạt động. Bản thân mẹ khi ấy là một phụ nữ trẻ năng nổ, đứng đầu nhiều phong trào ở địa phương, vừa hăng hái tăng gia sản xuất, vừa làm giao liên, tiếp tế cho cách mạng.
Năm 1955, người bạn đời của mẹ là ông Phùng Kim Khánh (sinh năm 1927) từ biệt quê hương, khoác ba lô tập kết ra Bắc. Ngày tiễn chồng đi, mẹ gạt nước mắt, một mình ở lại quê nhà ôm cô con gái nhỏ Phùng Thị Tuyết Siêm, khi ấy mới tròn hai tuổi, vừa làm tròn vai trò của người mẹ, người cha, vừa phụng dưỡng gia đình, vừa kiên trung giữ vững mạch máu giao liên cho cách mạng.
Nối tiếp truyền thống gia đình, năm 1971, khi vừa tròn 18 tuổi, đồng chí Phùng Thị Tuyết Siêm viết đơn tình nguyện lên đường nhập ngũ. Trên cương vị là y tá tại Bệnh xá Hồ Tây (thuộc huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên trước đây), chị Siêm đã đem hết tuổi xuân, lòng nhiệt huyết của mình để giành giật sự sống cho thương bệnh binh và đồng đội.
Nhưng chiến tranh tàn khốc đã cướp đi giọt máu duy nhất của mẹ. Ngày 11-7-1974, trong một trận oanh tạc ác liệt của kẻ thù, người y tá kiên cường Phùng Thị Tuyết Siêm đã anh dũng hy sinh tại mảnh đất Quảng Ngãi. Chị ngã xuống khi chưa kịp nhìn thấy ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, chưa kịp gặp lại người cha tập kết trở về.
Trước đó, mẹ cũng đã gánh chịu những tổn thất lớn lao từ chính gia đình ruột thịt của mình. Phía nhà ngoại của mẹ có đến 3 liệt sĩ (gồm hai người em trai ruột và một người em dâu) đã ngã xuống vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Những người em rồi đến đứa con duy nhất lần lượt ra đi không trở về, nỗi đau của người ở lại lớn lao đến độ tưởng như hóa đá, hằn sâu vào tâm can của mẹ.
Năm 1976, ông Phùng Kim Khánh trở về đoàn tụ cùng vợ. Sau hơn hai mươi năm xa cách, ngày gặp lại chẳng thể vẹn tròn bởi người con gái duy nhất của họ đã vĩnh viễn nằm lại trong lòng đất mẹ.
Ghi nhận những cống hiến và sự hy sinh thầm lặng, lớn lao đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, ngày 17-12-1994, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký quyết định trao tặng danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam anh hùng đối với bà Lê Thị Huệ. Đây là sự tri ân sâu sắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với người mẹ đã hiến dâng những gì thiêng liêng nhất cho Tổ quốc.



