DI SẢN HỒ CHÍ MINH MÃI MÃI SOI ĐƯỜNG CHO DÂN TỘC VIỆT NAM
Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã sản sinh nhiều anh hùng kiệt xuất. Trong đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài, người tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành độc lập dân tộc và mở ra thời đại mới - thời đại Hồ Chí Minh. Di sản Người để lại là hệ thống giá trị to lớn về tư tưởng, đạo đức, phong cách và những cống hiến vĩ đại đối với dân tộc và nhân loại. Đến nay, di sản Hồ Chí Minh vẫn là ngọn đuốc soi đường, là nền tảng tinh thần và động lực quan trọng để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vững bước trên con đường xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, hội nhập và phát triển bền vững.
1. Ra đi tìm đường cứu nước, mở đầu hành trình tìm kiếm tương lai cho dân tộc
Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước là sự kiện lịch sử trọng đại, mở đầu hành trình tìm kiếm con đường độc lập, tự do và phát triển cho dân tộc Việt Nam trong thời đại mới. Cuộc ra đi ấy không chỉ thể hiện lòng yêu nước nồng nàn, ý chí kiên cường của một người thanh niên Việt Nam yêu nước, mà còn phản ánh tư duy chính trị độc lập, sáng tạo, vượt lên những giới hạn của thời đại. Từ đây, lịch sử dân tộc bước sang giai đoạn mới - giai đoạn tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển của thời đại và khát vọng của nhân dân.
Ngày 5/6/1911, từ Bến cảng Nhà Rồng, Nguyễn Tất Thành lên tàu Đô đốc Latouche-Tréville ra đi tìm đường cứu nước. Cuộc hành trình kéo dài gần ba thập kỷ ấy là quá trình vừa lao động, học tập, vừa khảo nghiệm thực tiễn cách mạng ở nhiều quốc gia, châu lục. Qua đó, Người tận mắt chứng kiến bản chất áp bức, bóc lột của chủ nghĩa thực dân, đồng thời nhận ra rằng sự nghiệp giải phóng dân tộc phải do chính nhân dân bị áp bức tự mình thực hiện.
Quá trình tìm đường cứu nước cũng là quá trình hình thành tư duy lý luận cách mạng của Hồ Chí Minh. Từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống, Người từng bước tiếp cận tinh hoa văn hóa nhân loại và đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Đây là bước ngoặt quyết định, giúp Người tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn: giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.
Điều sâu sắc hơn là Hồ Chí Minh ra đi không chỉ để giành độc lập dân tộc, mà còn để tìm kiếm một tương lai mới cho nhân dân Việt Nam - một đất nước độc lập, nơi nhân dân là chủ thể của quyền lực, được sống trong tự do, ấm no và hạnh phúc. Tư tưởng “lấy dân làm gốc” đã xuyên suốt hành trình cách mạng của Người.
Ngày 28/01/1941, sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, Người trở về Tổ quốc qua cột mốc 108 biên giới Việt - Trung (nay là mốc 675), trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, dân tộc ta đã làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Từ đó đến nay, di sản tư tưởng của Người luôn là ngọn đuốc soi đường cho dân tộc Việt Nam vững bước tiến lên tương lai.
2. Một số giá trị to lớn, tiêu biểu trong di sản Hồ Chí Minh soi đường cho dân tộc Việt Nam
Một là, di sản Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Đối với Người, độc lập dân tộc không chỉ là mục tiêu trước mắt của cách mạng Việt Nam, mà còn là điều kiện tiên quyết để nhân dân được hưởng tự do, hạnh phúc và để đất nước phát triển bền vững. Độc lập dân tộc là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của mỗi quốc gia, dân tộc. Người khẳng định một cách dứt khoát: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”[1]. Luận điểm đó không chỉ là khẩu hiệu chính trị, mà là sự kết tinh của truyền thống yêu nước Việt Nam, đồng thời là kết quả của quá trình khảo nghiệm thực tiễn và đấu tranh cách mạng lâu dài. Trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, Người trang trọng tuyên bố: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập”[2].
Tuy nhiên, Hồ Chí Minh không quan niệm độc lập dân tộc theo nghĩa hình thức hay thuần túy chính trị. Người nhấn mạnh: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”[3]. Vì vậy, Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước không chỉ nhằm xác định con đường giành độc lập đúng đắn, mà còn tìm con đường phát triển lâu dài cho dân tộc sau khi giành được độc lập. Trên hành trình ấy, Người tiếp cận chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm thấy trong học thuyết khoa học này lời giải cho vấn đề giải phóng dân tộc và giải phóng con người. Từ đó, Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”[4], nghĩa là độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là mô hình giáo điều, xa rời thực tiễn, mà là một chế độ xã hội hướng tới con người, vì con người. Người chỉ rõ: “Chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc”[5]. Theo đó, độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết, còn chủ nghĩa xã hội là mục tiêu lâu dài, bảo đảm cho nền độc lập được bền vững và nhân dân được giải phóng triệt để.
Ngày nay, tư tưởng đó tiếp tục được Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa và phát triển trong quan niệm về xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng, với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, lấy hạnh phúc và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo. Thành tựu của gần 40 năm đổi mới đã minh chứng sinh động cho giá trị trường tồn của di sản Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đây tiếp tục là kim chỉ nam cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
Hai là, di sản Hồ Chí Minh về hòa bình, hữu nghị, hợp tác giữa các dân tộc
Xuất phát từ truyền thống yêu chuộng hòa bình của dân tộc Việt Nam và tinh thần nhân văn sâu sắc, Hồ Chí Minh luôn nhất quán quan điểm đối ngoại hòa hiếu, hợp tác. Người khẳng định: Việt Nam muốn “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”[6]. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, dù phải lãnh đạo nhân dân tiến hành những cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ, Người vẫn luôn coi hòa bình là mục tiêu cao nhất, gắn liền với nền độc lập chân chính. Theo Hồ Chí Minh, sử dụng bạo lực cách mạng chỉ là sự lựa chọn bắt buộc khi không còn con đường nào khác để bảo vệ tự do và chủ quyền dân tộc.
Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng đoàn kết quốc tế, xem đó là nguồn sức mạnh quan trọng của cách mạng Việt Nam. Người luôn gắn cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới, trước hết là phong trào công nhân quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc. Trong thư gửi Liên hợp quốc năm 1946, Người khẳng định: “Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực[7]”.
Tư tưởng hòa bình, hữu nghị của Hồ Chí Minh còn thể hiện sâu sắc ở tinh thần khoan dung, nhân đạo, tôn trọng các dân tộc và các nền văn hóa khác nhau. Ngay cả đối với những quốc gia từng xâm lược Việt Nam, Người vẫn chủ trương khép lại quá khứ, hướng tới tương lai hợp tác: “Chúng tôi muốn lập với nước Pháp những mối quan hệ kinh tế và văn hóa trên cơ sở bình đẳng, hai bên đều có lợi và cộng tác thẳng thắn, tin cậy nhau”[8]. Đó là biểu hiện sinh động của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh, vượt lên trên tư tưởng hẹp hòi, cực đoan.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, di sản Hồ Chí Minh về hòa bình, hữu nghị và hợp tác tiếp tục là nền tảng tư tưởng cho đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam. Quan điểm Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế chính là sự kế thừa sáng tạo tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong điều kiện mới. Đồng thời, việc “có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới” cũng là một đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng.
Ba là, di sản Hồ Chí Minh về văn hóa, đạo đức, phong cách
Di sản Hồ Chí Minh về văn hóa, đạo đức, phong cách là bộ phận đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hệ thống tư tưởng của Người, thể hiện chiều sâu nhân văn, tầm vóc trí tuệ và sự thống nhất giữa tư tưởng với hành động. Đây không chỉ là những quan điểm lý luận có giá trị lâu dài, mà còn được hiện thực hóa sinh động bằng chính cuộc đời, lối sống và phong cách của Hồ Chí Minh.
Trước hết, về văn hóa, Hồ Chí Minh coi văn hóa giữ vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển dân tộc. Người khẳng định: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”[9]. Theo Người, văn hóa không đứng ngoài chính trị và kinh tế, mà phải phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước và hoàn thiện con người. Người xác định nền văn hóa mới Việt Nam phải mang ba tính chất cơ bản: dân tộc, khoa học và đại chúng. Đây vẫn là những định hướng có giá trị sâu sắc trong quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc hiện nay.
Về đạo đức, Hồ Chí Minh coi đạo đức cách mạng là “gốc” của người cán bộ, đảng viên. Người yêu cầu sự thống nhất giữa nói và làm, giữa lý luận và thực tiễn; đồng thời nêu lên những chuẩn mực đạo đức cốt lõi như: trung với nước, hiếu với dân; cần, kiệm, liêm, chính; chí công vô tư. Người cũng cảnh báo nguy cơ của chủ nghĩa cá nhân, coi đó là “giặc nội xâm” có thể làm suy yếu Đảng và chế độ nếu không được ngăn chặn kịp thời.
Về phong cách, Hồ Chí Minh để lại mẫu mực tiêu biểu về phong cách tư duy, phong cách làm việc, phong cách ứng xử và phong cách sống. Đó là lối sống giản dị, khiêm tốn, thanh cao; phương pháp làm việc khoa học, dân chủ, sâu sát thực tiễn; cách ứng xử chân thành, nhân ái, khoan dung nhưng kiên định về nguyên tắc. Phong cách Hồ Chí Minh là sự kết tinh hài hòa giữa trí tuệ lớn và nhân cách lớn, có sức cảm hóa sâu rộng đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, đất nước ta đang đứng trước nhiều thách thức về đạo đức xã hội, lối sống, văn hóa ứng xử và chất lượng đội ngũ cán bộ. Vì vậy, những giá trị văn hóa, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh càng trở nên quý báu. Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không chỉ góp phần hoàn thiện nhân cách mỗi cá nhân, mà còn xây dựng văn hóa chính trị lành mạnh, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.
Ba nội dung lớn trong di sản Hồ Chí Minh - độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; hòa bình, hữu nghị, hợp tác giữa các dân tộc; văn hóa, đạo đức, phong cách - hợp thành một chỉnh thể thống nhất, phản ánh chiều sâu tư tưởng và tầm vóc nhân cách của Người. Đây không chỉ là di sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam, mà còn là đóng góp quan trọng vào kho tàng tư tưởng của nhân loại vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Việc tiếp tục nghiên cứu, vận dụng, phát triển sáng tạo và bảo vệ di sản Hồ Chí Minh là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài của cách mạng Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới.
Kết luận
Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất của Việt Nam. Cuộc đời hoạt động cách mạng cao đẹp cùng hệ thống tư tưởng, đạo đức, phong cách mà Người để lại đã trở thành di sản tinh thần vô giá của Đảng và dân tộc ta. Di sản ấy không chỉ soi đường cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX, mà còn tiếp tục giữ vai trò định hướng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay. Những giá trị cốt lõi trong di sản Hồ Chí Minh như độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; hòa bình, hữu nghị, hợp tác giữa các dân tộc; xây dựng nền văn hóa mới, con người mới; rèn luyện đạo đức cách mạng và phong cách lãnh đạo khoa học, gần dân, vì dân vẫn nguyên giá trị thời sự sâu sắc. Đó là nền tảng tư tưởng quan trọng để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kiên định mục tiêu phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh chóng, cạnh tranh chiến lược gay gắt, cùng với yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc tiếp tục nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo di sản Hồ Chí Minh càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân Việt Nam cần không ngừng học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, biến những giá trị cao đẹp ấy thành động lực tinh thần và hành động thực tiễn. Di sản Hồ Chí Minh sẽ mãi mãi là ngọn đuốc soi đường, là nguồn sức mạnh to lớn dẫn dắt dân tộc Việt Nam vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới, xây dựng thành công nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và văn minh
Tác phẩm sưu tầm
Nguồn:https://truongchinhtri.quangngai.gov.vn/
ThS Lê Thị Minh Phượng
Giảng viên khoa Lý luận cơ sở
Tài liệu tham khảo
1. GS, TS, NGND Phan Ngọc Liên: Chiến sĩ quốc tế Hồ Chí Minh, hoạt động thực tiễn và lý luận cách mạng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2011, tập 4.
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2011, tập 5.
4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2011, tập 9.
5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2011, tập12.
6. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2011, tập 15.
7. Viện Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996, tập 10.
[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2011, tập 15, tr.131
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Đã dẫn, tập 4, tr.3
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Đã dẫn, tập 4, tr.64
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Đã dẫn, tập 12, tr.30
[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Đã dẫn, tập 12, tr.415
[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Đã dẫn, tập 5, tr.256
[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Đã dẫn, tập 4, tr.523
[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Đã dẫn, tập 9, tr.126
[9] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Đã dẫn, tập 5, tr. 269



