Dì Tám Lựu - Nữ cán bộ trung kiên của Đảng
Bà Nguyễn Thị Lựu tên khai sinh là Đỗ Thị Thưởng, sinh ngày 23 tháng 9 năm 1909 trong một gia đình địa chủ khá giả tại xã Hòa An, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc (nay là thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp). Do bà ngoại tin vào lời tướng số cho rằng Đỗ Thị Thưởng kỵ tuổi với mẹ nên đã thuê vợ chồng một tá điền nuôi dưỡng, đến năm 1916 mới được đón về sống chung với cha mẹ ruột. Bảy năm sống chung với gia đình mẹ nuôi nghèo khó đã một phần hình thành tình cảm và nếp nghĩ của Nguyễn Thị Lựu là rất gần g

Sinh ra trong thời kỳ mất nước, tận mắt chứng kiến những bất công trong xã hội, cảnh người dân lầm than cơ cực chịu sự bóc lột của bọn địa chủ cùng thực dân Pháp, Nguyễn Thị Lựu đã sớm quan tâm, trăn trở với thời cuộc, muốn đóng góp sức mình thay đổi vận mệnh đất nước và nhân dân.
Tham gia cách mạng từ năm 1927, năm 1928 bà Nguyễn Thị Lựu được kết nạp vào tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, đảm nhiệm công tác phụ vận khi mới 18 tuổi. Năm 1928, bà thoát ly gia đình lên Sài Gòn phụ trách liên lạc quốc tế ở Khánh Hội cùng với đồng chí Lý Tự Trọng. Năm 1929, bà được điều về Cần Thơ xây dựng cơ sở Nông hội ở Phong Hòa. Cuối năm 1929, bà được kết nạp vào An Nam Cộng sản Đảng tại Phong Hòa, Cần Thơ, lấy bí danh là Cửu. Cuối năm 1930, bà Nguyễn Thị Lựu được bầu vào Tỉnh ủy Mỹ Tho (nay thuộc tỉnh Tiền Giang). Đầu năm 1931, Tỉnh ủy Mỹ Tho đưa bà Nguyễn Thị Lựu về Sài Gòn và bổ sung vào Xứ ủy Nam Kỳ; bà được bầu vào Ban Thường vụ Công hội Đỏ tại Sài Gòn – Chợ Lớn. Cũng thời gian này, bà nhận lời hứa hôn với ông Nguyễn Văn Hanh (bí danh Nhuận) – Phó Bí thư Tỉnh ủy Mỹ Tho.
Tháng 5 năm 1931, bà Nguyễn Thị Lựu bị mật thám bắt giam tại Khám Lớn Sài Gòn. Trước những trận đòn khốc liệt, dã man của địch, bà Nguyễn Thị Lựu vẫn kiên định, giữ vững khí tiết của người cộng sản. Tòa đại hình đặc biệt Sài Gòn mở phiên xử kéo dài 7 ngày (từ ngày 2 tháng 5 đến ngày 9 tháng 5 năm 1933) đã tuyên án bà 5 năm tù giam tại Khám Lớn Sài Gòn. Ông Nguyễn Văn Hanh khi đó cũng bị bắt và bị tuyên án tử hình, hạ xuống chung thân khổ sai, bị đày đi Côn Sơn (Côn Đảo). Đến năm 1936, khi được trả tự do, bà Nguyễn Thị Lựu mới biết tin người yêu đã hy sinh trong chuyến vượt ngục Côn Đảo vào cuối năm 1934, cùng với 10 đồng chí khác, trong đó có đồng chí Ngô Gia Tự (1908 – 1934) – Bí thư đầu tiên của Xứ ủy Nam Kỳ.
Năm 1958, bà Nguyễn Thị Lựu được điều ra Hà Nội, lúc này bà là Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tham gia đại biểu Quốc hội khóa II năm 1960. Năm 1960, bà được giao giữ chức Vụ trưởng Vụ Quốc tế Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trực tiếp lãnh đạo các tổ chức: Ủy ban Bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam, Ủy ban Đoàn kết Nhân dân Á Phi của Việt Nam, Ủy ban đấu tranh cho nền độc lập Algérie… Đồng thời, bà còn được cơ cấu là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.
Từ năm 1961 đến năm 1976, bà Nguyễn Thị Lựu là Phó Tổng Thư ký Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Xô. Năm 1976 đến năm 1979, bà là Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam. Bà là đại biểu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam) khóa II, III, IV; từng giữ chức vụ Chủ nhiệm Ủy ban Thống nhất Quốc hội khóa III và IV.
Trong suốt 21 năm tham gia Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, bà Nguyễn Thị Lựu là tấm gương sáng ngời về tinh thần cách mạng của người phụ nữ Việt Nam, là một nữ cán bộ trung kiên của Đảng từ lúc còn hoạt động cách mạng bí mật đến ngày thắng lợi hoàn toàn thống nhất đất nước và cho đến khi từ trần, bà luôn kiên trì và bền bỉ đấu tranh, tạo dựng được niềm tin yêu của Đảng, của đồng chí, đồng bào, bạn bè, quê hương và gia đình. Cuộc đời của bà Nguyễn Thị Lựu đã toát lên những phẩm chất cao quý của người phụ nữ về tinh thần cách mạng, về tình yêu, lòng thủy chung, kiên cường, bất khuất vượt qua những thử thách nghiệt ngã để hoàn thành lý tưởng cách mạng của mình.
Tháng 3 năm 1979, bà Nguyễn Thị Lựu nghỉ hưu và bà mất vào ngày 11 tháng 10 năm 1988 tại Thành phố Hồ Chí Minh do tuổi cao, sức yếu.



