Di tích lịch sử chiến thắng Giồng Thị Đam – Gò Quản Cung (Phần 1)
Di tích lịch sử chiến thắng Giồng Thị Đam – Gò Quản Cung (phần 1)
Những năm 1954-1959, cuộc đấu tranh chống địch “khủng bố, tố cộng” kết hợp với phong trào đấu tranh đòi hiệp thương tổng tuyển cử diễn ra sôi động, rộng khắp. Đơn vị vũ trang của Tỉnh ra đời trong thời kỳ này, lấy tên là Tiểu đoàn 2 Bình Xuyên (ngụy trang dưới danh nghĩa giáo phái ly khai). Cán bộ chỉ huy cấp trung đội, đại đội, tiểu đoàn hầu hết đã kinh qua hoạt động vũ trang trong kháng chiến chống Pháp; chiến sĩ là con em các gia đình chí cốt cách mạng. Trong điều kiện hoạt động bí mật có nhiều khó khăn, đơn vị phải hoạt động phân tán, mỗi đại đội bám một địa bàn nhất định. Khi thật cần thiết thì tập trung về một địa điểm trong vùng căn cứ để học tập, huấn luyện hoặc triển khai kế hoạch mới... Xuất phát từ đặc điểm chiến trường Đồng Tháp Mười, đơn vị coi trọng công tác huấn luyện chiến thuật chiến đấu trên đồng nước (chống xuồng, bắn súng, truy kích địch v.v,,,). Từ khi ra đời (1956) đến khoảng giữa năm 1959, nhiệm vụ chủ yếu của đơn vị là vũ trang tuyên truyền, trấn áp tề diệt ác ôn, bảo vệ Đảng, xây dựng cơ sở, hỗ trợ phong trào quần chúng đấu tranh chính trị.
Cuối năm 1955, chính quyền Ngô Đinh Diệm tăng cường hoạt động ở tỉnh Kiến Phong làm cho lực lượng cách mạng bị tổn thất nặng nề. Nhân dân đã lên đấu tranh mạnh mẽ đòi Mĩ – Diệm thi hành hiệp định Giơnevơ.
Tỉnh Kiến Phong là một bộ phận của Đồng Tháp Mười bao gồm tỉnh Kiến Tường, Long An và Mĩ Tho hợp thành một căn cứ hoàn chỉnh trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ.
Do Kiến Phong có vị trí chiến lược (về căn cứ) lại tiếp giáp với biên giới Campuchia và là vùng đông dân, nhiều cửa ở ven sông tiền nên ngay khi tiếp quản miền Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm rất chú trọng đánh phá phong trào cách mạng ở đây, đồng thời phòng thủ khá chặc chẽ. Nhằm mục đích chia cắt Đồng Tháp Mười, chính quyền Ngô Đình Diệm đóng ở Cao Lảnh trung đoàn 43 thuộc sư đoàn 23 và còn rất đông lực lượng địa phương thực hiện nhiệm vụ “Bình định lảnh thổ”. Vì đây là vùng căn cứ và là bến tập kết 100 ngày ở Cao Lảnh nên sau khi hết thời hạn tập kết, địch đã tập trung đánh phá, mở các đợt “tố Cộng” , “diệt Cộng” rất ác liệt nhằm xóa căn cứ Đồng Tháp Mười, xáo đi những dấu ấn và ảnh hưởng của cách mạng, của kháng chiến, của bộ đội trong nhân dân.
Tỉnh ủy tỉnh Kiến Phong đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh đòi thi hành hiệp định Giơnevơ, đòi dân sinh, dân chủ, giữ ruộng đất, chống khủng bố “tố Cộng, diệt Cộng” của địch. Tuy bị khủng bố ác liệt, cán bộ, Đảng viên bị thiệt hại nhiều nên vì có căn cứ, nên lực lượng cách mạng vẩn được bảo tồn và phát triển. Trước sự khủng bố ác liệt của địch, Liên Tỉnh ủy chỉ đạo các tỉnh Đồng Tháp Mười móc súng trôn dấu trước đây để thành lập lực lượng vủ trang
Từ năm 1959, chiêu bài “Tố cộng, diệt cộng” của Mĩ-Diệm được hợp pháp hóa bằng Luật phát xít 10/59. Mâu thuẫn chính trị giữa nhân dân miền Nam yêu nước với chế độ độc tài, phát xít Mĩ Diệm đã đến đỉnh cao. Về chỉ đạo của Đảng, đã có những quyết sách mới, đó là Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng. Theo đó, Liên Tỉnh ủy miền Trung Nam Bộ kịp thờỉ triển khai tinh thần chỉ đạo mới của Trung ương và phát động khởi nghĩa.
Giồng Thị Đam – Gò Quản Cung là địa điểm nằm sâu trong Đồng Tháp Mười giáp ranh hai huyện Hồng Ngự và Thanh Bình. Vào tháng 9 thanh 10 hằng năm, vùng này bị ngập sâu từ 2 đến 2,5 mét, cỏ dạy lúa ma.... mọc lên thành rừng, gây trở ngại cho xuồng ghe qua lại. Trong kháng chiến, ở Đồng Tháp Mười vào mùa nước nổi, những giồng, gò là nơi phòng thủ, tiến công lợi hại của quân ta và cũng là điểm tập trung đánh phá của địch. Giồng Thị Đam – Gò Quản Cung là căn cứ của Tiểu đoàn 502.
Về phía địch, do phát hiện Việt Cộng đang hoạt động tại Giồng Thị Đam và Gò Quản Cung, trung tá Trần Hoàng Quân, chỉ huy trưởng phân khu bắc thuộc quân khu 5 ngụy chủ trương mở cuộc hành quân vào căn cứ của ta.
Ngày 21 và 22 tháng 9 năm 1959, tên Quân cùng thiếu tá Nguyễn Quốc Hoàng tỉnh trưởng, đại úy Đoàn Chí Thẩm tỉnh phó tỉnh Kiến Phong bàn bạc, vạch kế hoạch hành quân. Chúng thống nhất chọn tứ giác WS : 710.910 – 495.825 – 610.000 – 400.000, làm khu vực trọng tâm càng quét. Qui mô hành quân cấp trung đoàn, lực lượng chủ yếu là trung đoàn 43 (sư đoàn 23) kết hợp với lực lượng quân thủy, bộ địa phương. Theo kế hoạch địch chia làm 4 cánh quân.
Cánh quân A (chủ công) gồm 3 đại đội được trang bị 80 chiếc xuồng, ngày 25 tháng 9 năm 1959 xuất phát từ quận lỵ Hồng Ngự tiến quân vào vùng phía bắc Giồng Chàng đến Sa Rài và nghỉ đêm ở đó. Sáng ngày 26 tháng 9 tiến theo hướng đông nam vào mục tiêu quy định là Giồng Thị Đam, thọc xuống Gò Quản Cung phối hợp với cánh B lục soát vùng này.
Cánh B gồm tiểu đoàn 2 (các đại đội 7, 9) và các ban chỉ huy tiểu đoàn (do đại úy Hồ Văn Thơm tiểu đoàn trưởng chỉ huy) : xuất phát ngày 26 tháng 9 thọc thẳng vào Gò Quản Cung phối hợp với tiểu đoàn 3 (cánh A) bao vây đánh úp bộ đội ở đây.
Cánh C gồm ban chỉ huy hành quân đi cùng đại đội 10 (do trung tá Quân trực tiếp chỉ huy), tập kết tại đồn Cả Cái xã Tân Thành, bố trí quân án ngự ở hướng đông bắc không cho quân ta rút lui.
Cánh D gồm bảo an tiểu khu Kiến Phong chốt giữ đồn Hòa Bình, bung ra khi ta phục kích trên kênh Phước Xuyên, án ngữ hướng đông nam.
Ngoài ra địch còn bố trí một giang lực gồm tàu LCM, 2 tàu POM sẵn sàng cơ động ứng chiến, các trận địa pháo Sa Rài, Hồng Ngự, Kiến Tường và máy bay sẵn sàng chi viện yểm trợ hành quân.
Cuộc hành quân trong 2 ngày 25, 26 tháng 9 năm 1959, có nhiệm vụ:
- Tiêu diệt tại chỗ.
- Lục soát tất cả các gò cao có thể địch quân làm chổ ẩn trú.
- Lục soát tất cả các lùm rậm, rừng tràm.
- Chận bắt những người tình nghi, ghe xuồng trong vùng hành quân.
Với quân số đông hỏa lực mạnh chúng có thể dể dàng tiêu diệt “một nhúm Việt Cộng ốm đói với mấy cây súng sét”. Chưa ra quân chúng đã có cảm giác vui sướng trước một trận thắng dể dàng.
Theo chỉ đạo của Liên Tỉnh ủy, ngày 23-9-1959, đơn vị vũ trang tỉnh Kiến Phong chính thức làm lễ ra mắt, lấy tên là Tiểu đoàn 502. Trước đó, đơn vị được tập trung huấn luyện để chuẩn bị cho đợt hoạt động mới.
Hoạt động của Tiểu đoàn 502 bị bọn mật thám của địch phát hiện. Được tin này, địch liền mở cuộc hành quân lớn nhằm mục tiêu “tìm diệt” Việt cộng tại những địa điểm tình nghi trong vùng căn cứ Đồng Tháp Mười (sơ đồ hành quân của chúng là vùng tứ giác hậu bối giáp ranh 2 huyện Hồng Ngự và Thanh Bình). Trong khi đó, Ban chỉ huy Tiểu đoàn 502 không nắm được âm mưu của địch mở cuộc càn quét, nên vẫn đưa các phân đội về các địa bàn để vào đợt võ trang tuyên truyền. Ban Chỉ huy Tiểu đoàn cùng Đại đội Bảy Phú trong đêm 24-9-1959 hành quân bằng xuồng từ Gò Quản Cung về Giồng Thị Đam để hôm sau tiến hành võ trang tuyên truyền ở xã Bình Thạnh (Hồng Ngự).
Tại Giồng Thị Đam, sáng ngày 25-9-1959, do phát hiện một cánh quân địch hành quân bằng xuồng từ hướng Hồng Ngự về dinh điền Sa Rài, Ban Chỉ huy Tiểu đoàn 502 nhận định chúng có thể quay lại theo đường cộ (đường trâu kéo cộ đi vào mùa khô, mùa nước nổi ít cỏ, đi xuồng dễ dàng).
Ngày 25 tháng 9, ta phát hiện địch ngủ ở gò Sa Rài. Ban chỉ huy tiểu đoàn lên phương án đánh địch nếu ngày hôm sau địch tới. Cụ thể đại đội Bảy Phú chia làm hai trung đội; một do đại đội trưởng Võ Cuốn chỉ huy. Một nửa đại đội Năm Bình do chính trị viên Bảy Ruộng chỉ huy, làm một mũi riêng.
Khoảng 9 giờ sáng ngày 26 tháng 9 khi trinh sát ta phát hiện địch hành quân bằng xuồng đi theo đường cộ hướng về Giồng Thị Đam, tốc độ tiến quân rất chậm đại đội Út Thu quan sát thấy địch khá đông, nhận định chúng không phải quân bảo an, dân vệ mà có thể là lực lượng chủ lực địch. Đồng chí khẩn trương hỏi ý trong ban chỉ huy, ra lệnh cho bộ đội sẵn sàng chiến đấu và báo cáo với tiểu đoàn xin ý kiến. Trên cơ sở đánh giá địch và ta, ban chỉ huy tiểu đoàn do đồng chí Lê Văn Khuyên (Tám Dần) tiểu đoàn trưởng và đồng chí Sáu Chung chính trị viên chỉ huy, hạ quyết tâm tiêu diệt địch. Tiểu đoàn 502 thành lập tháng 12 năm 1956 theo chỉ thị vũ trang tuyên truyền của Liên tỉnh ủy. Đây là lần đầu tiên tiểu đoàn ra quân đánh lớn.
Khoảng 10 giờ, địch lọt vào trận địa đột kích của ta; tiểu đoàn trưởng hạ lệnh nổ súng. Hai trung liên chặn đầu vừa nổ giòn thì trung liên khóa đuôi cũng bắn chéo cánh sẻ dọc đội hình địch. Giữa đội hình địch là tiếng tiểu liên khóa đuôi cũng bắn chéo cánh sẻ dọc đội hình địch. Giữa đội hình địch là tiếng tiểu liên xen lẫn súng trường của ta đồng loạt nổi lên.
Ngay từ loạt đầu, địch đã lăn tỏm xuống nước một số tên, sau đó một số tên nhảy xuống nước làm xuồng tròng trành lật úp không kịp bắn trả, chỉ vài tên chống cự bắn lại. Thấy đội hình địch hỗn loạn không kịp trở tay, tiểu đoàn trưởng liền ra lệnh xung phong. Xuồng của ta xung phăng phăng lướt ra, vừa tiến, vừa bắn áp đảo, vừa gọi hàng. Quân địch hoảng hốt chống xuồng bỏ chạy, nhưng bị cỏ lác rậm rạp ngăn trở, chúng ùn tắc, đâm xuồng vào nhau, nhiều cái chìm nghỉm. Tên đại úy Phán cũng bị rơi xuống nước sợ quá kêu lính đầu hàng. Những tên rơi xuống nước được bộ đội ta cho bám xuồng, lội vào chổ cạn, leo lên bờ đất, súng đạn được gom lại một chỗ, người một chỗ sợ run cầm cập.
Thế là chỉ là sau 15 phút chiến đấu, ta đã làm chủ trận địa, diệt và bắt toàn bộ bọn địch: tiêu diệt 12 tên, bắn sống 75 tên, thu được 7 trung liên, 45 garant máy vô tuyến, toàn bộ xuồng và rất nhiều quân trang quân dụng, đạn dược. Tiểu đoàn lệnh cho thu gom chiến trường, rút quân khỏi trận địa, mang theo toàn bộ tù binh về Gò Quản Cung để tránh phi pháo.
Tại Gò Quản Cung, một mặt ta sắp xếp bố trí trận địa phục kích sẵn sàn chiến đấu đánh định, một mặt giải quyết những việc hậu cần sau trận đánh, đồng thồi giáo dục cho đám tù binh. Nội dung giáo dục chính trị được chính trị viên Phàn nêu rõ : Chính quyền độc tài phát xít tay sai Mĩ là Ngô Đình Diệm đã không tôn trọng Hiệp định Giơnevơ, tổng tuyển cử hiệp thương thống nhất nước nhà mà còn đàn áp nhân dân và cách mạng rất dã man. Điều đó buộc nhân dân miền Nam đứng lên cầm súng đánh lại, giành độc lập tự do cho Tổ quốc, thoát khỏi ách ngoại bang. Anh em kêu gọi binh sĩ không theo giặc, bỏ súng trở về với nhân dân, Anh giải thích chính sách khoan hồng của cách mạng, v.v. Binh lính và sĩ quan ngụy được băng bó vết thương, được đối đãi tử tế rất cảm kích. Đại úy Phán đã khai hết những gì chúng biết cho ta. Phán và tên trung úy Thoại thay mặt tù binh cám ơn cách mạng đã khoang hồng hứa sẽ không gây nợ máu với nhân dân nữa … (vì thế sau khi được giải phóng thích 2 tên này bị địch xử phạt rất nặng).
Sau khi khai thác tù binh, biết đây là toàn bộ ban chỉ huy tiểu đoàn và đại đội 12 tiểu đoàn 3 của địch. Chúng cho biết còn một mũi đang kéo đến, mục tiêu là Gò Quản Cung. Tiểu đoàn trưởng nhanh chóng cho thay đổi trang bị mới lấy được của địch và bố trí lại đội hình phục kích đảm bảo đánh chắc thắng, đồng thời đưa tù binh về sau trận địa để đảm bảo an toàn. Chiều hiu hiu gió. Cả một vùng đồng nước yên ả, bỗng từ xa vọng lại tiếng la lối và mái chèo khua nước. Trinh sát báo cáo phát hiện có một cánh quân địch đang di chuyển về hướng trận địa Gò Quản Cung. Lệnh tiểu đoàn xuống các mũi sẵn sàng chiến đấu. Im lặng chờ địch.
14 giờ, rồi 14 giờ 30 phút, cánh quân thứ hai lọt vào trận địa nhưng khác buổi sáng, lần này chúng đi hơi xa nhau nên đội hình khá dài. Lệnh nổ súng vừa phát, tiếng trung liên chặn đầu, khóa đuôi và lướt sườn nổ giòn đánh. Không hơn gì bọn lính tiểu đoàn 3 buổi sáng, bọn này cũng cuống cuồng sợ hãi, chúng nháo nhào bỏ chạy đâm cả vào nhau, nhào xuống nước tránh đạn, làm xuồng lật úp, lật nghiêng, mắc kẹt trong cỏ lác, và mắc nghẽn vào nhau không có đường quay trở. Chúng hoang mang chưa kịp trở tay thì ta chớp thời cơ đồng loạt xung phong, gọi hàng. Do đội hình địch dài nên đám đi sau tháo lui. Ta chỉ bắn theo, chúng chạy thoát. Toán đi đầu bị ta khóa chặt đội hình và bắt gọn. Sau 10 phút chiến đấu tất cả ta tiêu diệt và bắt sống toàn bộ đại đội 7, đánh thiệt hại tiểu đoàn 2 trung đoàn 43, bắt sống 27 tên, thu 26 súng và nhiều quân trang quân dụng. Trong trận này địch có chuẩn bị đề phòng, đội hình tiến hành cự ly xa nhau nên lúc đại đội 7 đi đầu bị chặn đánh, lực lượng đại đội 9 và ban chỉ huy tiểu đoàn 2 ở phía sau đã rút chạy về hướng nam.



