Di tích lịch sử Quốc gia Đồn Mộc Lỵ.
Di tích lịch sử Quốc gia Đồn Mộc Lỵ.
NGỌN LỬA HỒNG TRÊN CAO NGUYÊN MỘC CHÂU
Chủ đề cuộc thi:Câu chuyện thời hoa lửa
Họ và tên :Nguyễn Thị Bảo Trang
Trường:THCS Tây Tiến
Lớp :8B1
Mỗi ngày đến trường, em đều được đi qua những con đường quen thuộc của mảnh đất Mộc Châu yêu dấu. Quê hương em đẹp lắm, đẹp từ những đồi chè xanh mướt trải dài như những làn sóng nhấp nhô, cho đến những thung lũng hoa mận, hoa mơ trắng muốt mỗi dịp Tết về. Sống trong bầu không khí thanh bình, yên ả ấy, có đôi lúc chúng em quên mất rằng, để có được màu xanh của cây lá, màu trắng của hoa nở và nụ cười hồn nhiên của chúng em ngày hôm nay, mảnh đất này đã phải trải qua những năm tháng bão đạn mưa bom khốc liệt. Khi nhà trường phát động cuộc thi viết về chủ đề "Câu chuyện thời hoa lửa", em đã lặng mình suy nghĩ rất nhiều. Em không muốn tìm kiếm những câu chuyện xa xôi ở trên mạng internet, mà muốn viết về một nơi rất gần, một nơi mà em vẫn thường đi qua nhưng mỗi lần dừng chân lại đều thấy lòng mình nghẹn ngào xúc động. Nơi ấy chính là Di tích lịch sử Quốc gia Đồn Mộc Lỵ.
Kỷ niệm sâu sắc nhất đưa em đến gần hơn với lịch sử của đồn chính là chuyến đi thực tế do thầy cô giáo trường em tổ chức vào học kỳ trước. Hôm đó là một ngày cuối thu, thời tiết Mộc Châu hơi se se lạnh. Khi đứng trước ngọn núi đá tai mèo nằm sừng sững ngay gần ngã ba đường dẫn vào thác Dải Yếm, em cứ ngỡ đây chỉ là một ngọn núi bình thường giống như bao ngọn núi khác ở vùng cao Tây Bắc. Thế nhưng, khi được nghe cô giáo dạy Lịch sử kể chuyện và tận mắt nhìn thấy những mảng tường bê tông cũ kỹ, những hầm hào, lô cốt còn sót lại nằm xen kẽ giữa cây cỏ, em mới chợt nhận ra mình đang đứng trên một chứng nhân lịch sử vô cùng vĩ đại.
-Qua lời giảng ấm áp của cô và những tài liệu lịch sử địa phương mà em tìm đọc được, em mới hiểu vì sao Đồn Mộc Lỵ ngày xưa lại là một nỗi khiếp sợ và được mệnh danh là "chiếc áo giáp sắt" của thực dân Pháp. Vào những năm 1947, khi chiếm đóng vùng đất Mộc Châu, quân Pháp đã phát hiện ra vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng của ngọn núi này. Nó nằm ngay ngã ba đường huyết mạch, vừa có thể quan sát toàn bộ thung lũng, vừa có thể chặn đứng con đường di chuyển của bộ đội ta từ đồng bằng lên Sơn La, Lai Châu và sang cả nước bạn Lào. Để biến nơi đây thành một pháo đài bất khả xâm phạm, kẻ thù đã điên cuồng bắt phu, dùng biết bao nhiêu tấn bê tông, cốt thép để xây dựng nên 9 lô cốt kiên cố mọc lên xung quanh núi. Không chỉ vậy, chúng còn bao bọc xung quanh đồn bằng hàng chục lớp hàng rào dây kẽm gai dày đặc và gài mìn dày đặc ở khắp các lối đi. Dưới sự chỉ huy của viên quan ba Vincent xảo quyệt, hơn một tiểu đoàn quân địch luôn túc trực, chĩa súng ra các lỗ châu mai, sẵn sàng nhả đạn vào bất cứ ai dám đến gần. Thực dân Pháp lúc đó đã kiêu ngạo thách thức rằng, quân đội ta không bao giờ có thể đặt chân lên đỉnh Mộc Lỵ.
Nghe đến đoạn này, trong lòng một học sinh cấp 2 như em bỗng dâng lên một sự tò mò lớn. Làm sao một quân đội còn non trẻ, vũ khí còn thô sơ của ta lúc bấy giờ lại có thể đánh bại được một pháo đài kiên cố đến như vậy? Câu trả lời nằm ở tinh thần yêu nước vĩ đại và sự hy sinh không quản ngại thân mình của cha anh. Trong Chiến dịch Tây Bắc năm 1952, Bộ Tổng tư lệnh của ta đã quyết định phải nhổ bằng được cái "gai" Đồn Mộc Lỵ để mở đường cho quân chủ lực tiến lên. Nhiệm vụ khó khăn ấy được giao cho các chiến sĩ anh dũng của Trung đoàn 174, thuộc Đại đoàn 316.
-Để chuẩn bị cho trận đánh, các chú bộ đội đã phải trải qua những ngày tháng vô cùng gian khổ mà nếu không có lòng dũng cảm thì không ai có thể làm được. Cô giáo kể rằng, trong những đêm tối trời, sương mù dày đặc buốt giá của vùng cao, các chiến sĩ trinh sát đã phải bò sát đất, cọ mình vào đá sắc nhọn, lặng lẽ cắt từng sợi dây thép gai để đo đạc và vẽ bản đồ bố phòng của địch. Chỉ cần một tiếng động nhỏ, một ánh đèn pháo sáng của địch quét qua là có thể hy sinh ngay lập tức. Thế nhưng, các chú vẫn kiên cường hoàn thành nhiệm vụ nhờ vào sự đùm bọc, yêu thương của đồng bào các dân tộc Mộc Châu. Người dân quê em ngày ấy dù còn nghèo đói, túng thiếu nhưng đã sẵn sàng nhường cơm sẻ áo, giấu bộ đội trong nhà, giúp đỡ các chú vận chuyển lương thực, vũ khí và dẫn đường qua những lối mòn hiểm trở. Sự đoàn kết giữa quân và dân chính là thứ vũ khí mạnh mẽ nhất mà không một hàng rào dây thép gai nào của giặc có thể ngăn cản được.
Và rồi, đêm mùng 19 tháng 11 năm 1952 đã đi vào lịch sử như một huyền thoại. Trong không gian tĩnh mịch của núi rừng, lệnh nổ súng vang lên. Tiếng pháo binh của ta gầm vang, trút bão lửa xuống các vị trí của địch. Tiếng bộc phá nổ rền trời xé toạc màn đêm. Ngay lập tức, quân giặc điên cuồng bắn trả. Từ các lỗ châu mai, những làn đạn đỏ rực quét qua quét lại như những vệt tử thần. Trận chiến diễn ra vô cùng ác liệt và căng thẳng. Bộ đội ta phải giành giật với địch từng mét đất, từng ụ súng. Đã có những lúc quân ta bị chặn lại trước sự chống trả điên cuồng từ lô cốt trung tâm của giặc. Nhưng chính trong giây phút sinh tử ấy, tinh thần "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh" đã bùng cháy. Những người lính trẻ, tuổi đời có lẽ chỉ hơn chúng em một giáp, đã ôm bộc phá lao thẳng vào hỏa lực của địch để mở đường cho đồng đội. Tiếng hô xung phong vang vọng cả núi rừng đã tiếp thêm sức mạnh cho toàn quân lao lên như vũ bão.
Đến rạng sáng ngày 20 tháng 11 năm 1952, khi ánh mặt trời vừa ló rạng qua những làn sương mờ, lá cờ đỏ sao vàng của ta đã tung bay kiêu hãnh trên đỉnh Đồn Mộc Lỵ. Căn cứ kiên cố của Pháp sụp đổ hoàn toàn, viên chỉ huy Vincent cùng toàn bộ ban chỉ huy đồn bị bắt sống. Trận đánh kết thúc thắng lợi, ta giải phóng hoàn toàn huyện Mộc Châu, mở toang cánh cửa chiến lược để tiến lên giải phóng vùng Tây Bắc, tạo đà cho chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy sau này. Niềm vui chiến thắng vỡ òa trong tiếng hò reo của đồng bào dân tộc khi được thoát khỏi ách kìm kẹp của giặc. Nhưng để có được nụ cười ngày giải phóng ấy, 53 người con anh dũng của Tổ quốc đã mãi mãi ngã xuống, máu của các anh đã hòa vào đất mẹ, nằm lại thanh thản dưới những vách đá tai mèo của Mộc Châu
Đứng ở khu di tích hôm nay, nhìn ngắm tấm bia ghi danh các anh hùng liệt sĩ, em cảm thấy lồng ngực mình nghẹn lại. Các anh ngã xuống khi tuổi đời còn quá trẻ, có những chú, những anh còn chưa kịp có người yêu, chưa kịp gửi một bức thư về cho gia đình ở quê nhà. Sự hy sinh ấy quá đỗi lớn lao và cao cả. Nó khiến một học sinh lớp 8 như em phải tự nhìn nhận lại bản thân mình. Đôi khi ở nhà, em vẫn còn hay vòi vĩnh bố mẹ mua cho quần áo mới, đôi khi đi học em còn lười biếng, than thở rằng bài tập quá dài, quá khó. So với những gian khổ, đói rét và cả sự sống chết mà các thế hệ đi trước phải đối mặt trong "thời hoa lửa", những khó khăn của em ngày hôm nay thật là nhỏ bé và chẳng thấm tháp vào đâu.
(Ảnh Đồn Mộc Lỵ những năm mới thành lập )
Cuộc thi tìm hiểu lịch sử này đối với em không phải là một áp lực, mà là một cơ hội quý giá để em được bày tỏ lòng biết ơn của mình. Em nhận ra rằng, trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay không cần phải là những điều gì quá to tát vượt quá lứa tuổi. Đối với học sinh cấp 2 chúng em, lòng yêu nước và biết ơn chính là cố gắng học tập thật chăm chỉ, nghe lời thầy cô, ông bà, cha mẹ. Đó là việc tham gia đầy đủ và tích cực vào các hoạt động "Đền ơn đáp nghĩa", đến thắp hương tại nghĩa trang liệt sĩ hay giúp đỡ các gia đình có công với cách mạng vào các ngày lễ lớn do Đoàn, Đội trường tổ chức. Bên cạnh đó, là một người con của Mộc Châu, em tự nhủ mình phải có trách nhiệm gìn giữ và giới thiệu vẻ đẹp lịch sử của quê hương đến với bạn bè bốn phương, để ai đến với Mộc Châu cũng biết rằng nơi đây không chỉ có cảnh đẹp mà còn có một lịch sử rất đỗi hào hùng.
Chiến tranh đã lùi xa, Đồn Mộc Lỵ giờ đây đã được tôn tạo khang trang, trở thành một địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống cách mạng cho chúng em. Những vết thương trên đá núi năm xưa đã được chữa lành bằng màu xanh của cây lá, nhưng câu chuyện về đêm khói lửa năm 1952 thì sẽ mãi mãi khắc sâu vào tâm trí của từng người dân nơi đây. Bài viết này là nén tâm hương thành kính nhất mà em muốn dâng lên hương hồn các chú, các anh hùng liệt sĩ. Chúng em – thế hệ mầm non của đất nước – xin hứa sẽ luôn chăm ngoan, học giỏi, sống thật xứng đáng với những giọt máu đã rơi, để cùng nhau xây dựng quê hương Mộc Châu ngày càng giàu đẹp, văn minh và viết tiếp những trang sử tự hào trong thời kỳ mới.



