DI TÍCH NGÃ TƯ YÊN KHÊ
Đà Nẵng, mảnh đất kiên cường, mảnh đất đã từng gây sóng gió cho thực dân Pháp xâm lược.
“Thành Thái Phiên tắm mình trong khói lửa
Đất anh hùng một lần nữa quyết hy sinh”.
Từ sau Cách mạng tháng Tám, thực dân Pháp nhân danh quân đồng minh vào thay thế quân “Tàu Tưởng” đã phản bội lại Hiệp định Sơ bộ ngày 06/03/1946 và Tạm ước ngày 14/9/1946 với ý đồ xâm lược nước ta lần nữa. Chính phủ ta đứng đầu là Bác Hồ đã kêu goi “Toàn quốc kháng chiến chống xâm lược..”. Chiều ngày 19/12/1946, Bộ trưởng quốc phòng kiêm Tổng chi huy quân đội Võ Nguyên Giáp đã ra lệnh:
“Tổ quốc lâm nguy! Giờ chiến đấu đã đến! Toàn thể bộ đội Vệ quốc đoàn và Dân quân tự vệ Trung-Nam-Bắc phải nhất tề đứng dậy, phải xông ra mặt trận giết giặc cứu nước. Thề quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, chiến đấu đến giọt máu cuối cùng tiêu diệt bọn thực dân Pháp xâm lược...”
Tại Đà Nẵng, trung đoàn 96 lúc bấy giờ đang làm nhiệm vụ “Tiếp phòng quân, liên kiểm Việt-Pháp’’ đối mặt với giặc Pháp.
Để đáp lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ Tịch và Chính phủ, mờ sáng ngày 20/12/1946, các lực lượng vũ trang và nhân dân Đà Nẵng bao gồm Trung đoàn 96, 93 và các đơn vị chiến đấu của Đà Nẵng đồng loạt nổ súng, mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. từ ngày 20 đến 24/12/1946, Trung đoàn 96 đã tập trung đánh chiếm và tiêu diệt giặc Pháp tại trung tâm Thành phố. Ngày 25/12 Pháp tấn công ra phía ngã tư Yên Khê với từng đợt tấn công lớn hòng tiêu diệt trung tâm đầu não của ta đang đóng tại đây gồm có các đồng chí:
- Đ/c Trương Quang Giáo – Bí thư Tỉnh ủy
- Đ/c Nguyễn Thúy – Chủ tịch Ủy ban hành chính Tỉnh
- Đ/c Vũ Khương Ninh – Bí thư Tỉnh ủy
- Đ/c Trần Đình Tri – Chủ tịch Ủy ban hành chính Thành phố
- Đ/c Đàm Quang Trung – Chỉ huy trưởng
- Đ/c Huỳnh Ngọc Huệ - Chính trị viên
- Đ/c Nguyễn Bá Phát – Phó chỉ huy quân sự mặt trận QN-ĐN
Lập Sở chỉ huy dã chiến trực tiếp đối phó với mọi tình huống xảy ra trong địa bàn thành phố.
Thực dân Pháp xem ngã tư Yên Khê là một giao điểm quan trọng, một trọng điểm cần tập trung đánh phá để giải vây cho sân bay và mở đường liên lạc ra Huế, là trung tâm chỉ huy toàn mặt trận của ta. Cho nên, Pháp tập trung toàn lực lượng dồn sức để đánh. Từ 21/12/1946 đến 24/12/1946, Pháp dùng pháo lớn từ tàu chiến ngoài biển bắn vào dồn dập. Ngày 25/12/1946, từng đoàn xe bọc thép và nhiều quân Âu-Phi từ thành phố tràn lên ngày một đông, tạo thành thế áp đảo hòng phá vỡ tuyến phòng ngự của ta.
Trước đó, Bộ chỉ huy kháng chiến QN-ĐN đã ra lệnh cho nhân dân thực hiện chiến thuật “Vườn không nhà trống” vận chuyển các kho tàng, các cơ quan đoàn thể di chuyển ra ngoài. Tại ngã tư Yên Khê, chỉ còn lại bộ đội, công an xung phong, tự vệ chiến đấu. Ta tổ chức nhiều tuyến phòng ngự, nhiều “ ổ đề kháng” chặn đánh tỉa địch liên tục làm cho chúng bị thiệt hại trên đường khá nhiều. song trận chiến vẫn ngày càng ác liệt. Ta gom các phân đội của tiểu đoàn 18, tiểu đoàn 19 và anh em xung phong, lực lượng dân quân tự vệ chiến đấu của thành phố với vũ khí thô sơ: lựu đạn, mã tấu, mìn, lưỡi lê... vẫn dũng cảm xông lên. Nhiều lúc các chiến sĩ của ta phải đánh giáp lá cà, vật lộn với địch để cướp súng, dùng mìn, chai carếp đốt cháy xe tăng địch, chặn đứng được nhiều cuộc tấn công ồ ạt và tiêu diệt hàng trăm tên địch. Mãi đến tối 25/12/1946 chúng đã đặt chân lên được ngã tư Yên Khê. Và trong đêm đó, lợi dụng tinh thần của địch còn hoang mang lo sợ, Đại đội 2 tiểu đoàn 19 từ phòng tuyến ngoài cơ động vào, dùng súng trường, lựu đạn, giáo mác... tập kích bất ngờ tiêu diệt được một số tên địch làm cho chúng trở tay không kịp, buộc phải lui ra ngoài và ta chiếm lại ngã tư Yên Khê.
Sáng ngày 26/12, Đại đội trưởng Ngô Huy Tiếp chỉ huy một lực lượng bí mật bất ngờ đánh vào sườn của đội hình quân địch đang co cụm phía sau. Bị tấn công quá bất ngờ, chúng phải tháo chạy. Từ đây, cuộc chiến đấu ngày càng diễn ra ác liệt hơn. Ta với địch cách nhau không quá 100m, ngày nào cũng có từ 4-6 trận xung phong và phản xung phong lẫn nhau.
Sau 15 ngày đêm chiến đấu căng thẳng (bắt đầu 21/12/1946 đến 07/01/1947) ta tiêu diệt và làm bị thương hơn 500 tên địch, phá hủy một số chiến xa. Mặc dù lực lượng giữa ta và địch có sự chênh lệch lớn, địch quân đông, vũ khí hiện đại, phía ta lực lượng ít, vũ khí thô sơ thiếu súng đạn, song trận đánh ngã tư Yên Khê đã đem lại một thắng lợi lớn có tiếng vang. Và qua đó cũng rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm cho các trận đánh sau này. Những tấm gương hy sinh dũng cảm của các đồng chí cán bộ , bộ đội trong trận đánh này đã để lại cho muôn đời con cháu hôm nay và mai sai những tình cảm tự hào và đáng trân trọng.
Đây là thành tích rất lớn của Trung đoàn 96 nói riêng và của cả lực lượng chiến đấu của nhân dân thành phố Đà Nẵng nói chung, góp phần không nhỏ vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.


