Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

ĐI TÌM NGƯỜI CÒN SỐNG VÀ ĐI TÌM NGƯỜI ĐÃ KHUẤT

Hai câu chuyện kể về những hành trình đầy nghĩa tình của người lính Không quân. Phần thứ nhất là cuộc “cấp cứu” phi công Lê Quang Trung nhảy dù an toàn sau trận chiến. Từ sự lo lắng căng thẳng trong đêm tối đến khi anh tỉnh lại và tiếp tục trở về bầu trời chiến đấu, câu chuyện thể hiện tinh thần trách nhiệm và tình đồng đội sâu sắc. Phần thứ hai là hành trình nhiều năm đi tìm, tu sửa và đưa các liệt sĩ Không quân về nơi yên nghỉ xứng đáng, trong đó có Nguyễn Văn Biên và Nguyễn Văn Bảy. Đó là s

Lai Châu02/03/2026Ban Biên tập tổng hợp4 lượt xem0 lượt chia sẻ

1. ĐI TÌM NGƯỜI CÒN SỐNG

Vào một buổi chiều hè, khi màu hồng của hoàng hôn buông xuống thì có lệnh rút ban. Một máy bay vẫn chưa về. Cả sân bay lo lắng. Những con mắt đăm đăm nhìn về phía chân trời xa.

Trung đoàn trưởng Trần Hanh gọi tôi tới giao nhiệm vụ.

- Có điện của Bộ Tư lệnh Quân chủng thông báo - Anh Lê Quang Trung nhảy dù ở Việt Trì. Anh lên tổ chức cấp cứu và giải quyết những vấn đề cần thiết. Lấy xe của tôi, cậu Nong lái xe đưa anh đi.

Ngày đó, đi tìm máy bay rơi, hoặc đón anh em phi công nhảy dù, thường được gọi vắn tắt là "cấp cứu'. Phương tiện cấp cứu là máy bay trực thăng Mi-4 hoặc ôtô Com-măng-ca, hiếm khi có xe cấp cứu chuyên dụng. Những người tham gia thường là cán bộ tác chiến, quân y, chính sách, chính trị...

Chiếc xe chở tôi lăn nhanh trên con đường số 2. Tới Việt Trì trời còn sớm. - Cầu phao Việt Trì vừa bị địch đánh hỏng. Bộ đội công binh đang khẩn trương sửa chữa. Tôi xuống xe, đi hỏi thăm mọi người. Nhiều người nhìn thấy chiếc dù rơi gần nhà máy hoá chất Việt Trì, không hiểu của ta hay của địch. Tôi đã thấy mừng.

23 giờ cầu sửa xong. Xe chúng tôi được ưu tiên sang trước. Đi về đâu bây giờ? Lê Quang Trung nhảy dù ở gần nhà máy hoá chất Việt Trì thì chắc đâu anh còn ở đó. Trời tối đen, xe chỉ được chạy đèn gầm để tránh máy bay địch. Tôi quyết định hỏi thăm vào bệnh viện ViệtTrì, bệnh viện đã sơ tán về một vùng quê ngoại thành.

Xe chúng tôi dừng trước căn nhà lá rộng, thoáng mát. Lê Quang Trung nằm trên chiếc cáng thương, vẫn nguyên vẹn trên người bộ đồ bay. Các bác sĩ bệnh viện cho tôi biết, sức khoẻ của anh vẫn bình thường, khôngbị chấn thương phần mềm, cũng như phần cứng. Anh chưa tỉnh vì não bị chấn động mạnh. Các bác sĩ vẫn để anh mặc quần áo bay, kể cả mũ công tác, chờ đại diện đơn vị lên cùng quyết định.

Tôi đề nghị bệnh viện đưa anh về bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Đi theo xe cứu thương còn có một bác sĩ, một y tá của bệnh viện và chiếc xe cấp cứu chuyên dụng. Tôi đã rút được kinh nghiệm cấp cứu đồng chí Đặng Ngọc Ngự nhảy dù thành công. Khi đó anh Ngự còn khoẻ tuy không đi cấp cứu, nhưng vì không có giấy tuỳ thân, nên rất khó khăn vượt lên trước. Lần này tôi có đầy đủ giấy tờ, phương tiện chắc chắn gặp nhiều thuận lợi. Phà Chèm bị đánh hỏng, xe xếp hàng khá dài. Tiếng còi xe cứu thương vang lên, cùng danh nghĩa cấp cứu phi công nên cũng được ưu tiên lên trước. Vậy mà, tới bệnh viện cũng đã 4 giờ 30 sáng.

5 phút sau, kíp trực của bệnh viện đã có mặt đông đủ hội chẩn. Vừa lúc đó Lê Quang Trung bừng tỉnh. Anh hỏi:

- Tôi đang ở đâu thế này?

- Anh Trung? Anh có nhận ra tôi không?

Anh khẽ gập đầu nói:

- Tôi hiểu rồi? Tôi nhớ ra rồi?

Sau thời gian ngắn điều trị, Lê Quang Trung trở về bay hồi phục và tham gia chiến đấu cùng đồng đội. Đã vài lần đi tìm anh em phi công nhảy dù thành công, tìm và mai táng anh em hy sinh ở vùng rừng núi xa xôi, hiểm trở; nhưng lần đi tìm Lê Quang Trung nhảy dù an toàn để lại cho tôi ấn tượng lâu nhất. Vì anh trở về tham chiến cùng đồng đội, bắn rơi thêm 2 chiếc máy bay Mỹ, cộng với 3 chiếc cũ là 5 chiếc . Anh còn được bổ nhiệm trung đoàn trưởng trung đoàn 925 chỉ huy trung đoàn bắn rơi 9 chiếc máy bay Mỹ. Rất tiếc anh đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ. Anh được Nhà nước, Quân đội truy tặng đanh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày 20 tháng 12 năm 1994.

2. ĐI TÌM NGƯỜI ĐÃ KHUẤT

Trong kháng chiến, không gia đình nào là không có mất mát, hy sinh. Gia đình tôi cũng như vậy. Khi còn là chiến đấu viên của đại đội bay đêm, tôi gạt bỏ mọi băn khoăn suy nghĩ để chiến đấu, để hoàn thành nhiệmvụ. Người phi công khi chụp cái mũ bay lên đầu, ngồi vào ghế máy bay và cất cánh, mọi suy tư, ưu phiền đều tan biến. Cái tập trung toàn bộ tinh lực lúc này là nhũng chiếc đồng hồ trong buồng lái, là mệnh lệnh chỉ huy từ mặt đất, là quân thù trước mặt ... Sự hy sinh của những chiến sĩ không quân lúc này coi nhẹ như sợi mây nhỏ giữa trời cao, như làn sương mảnh đầu mút cánh máy bay khi làm động tác lượn vòng chiến đấu.

Khi tôi từ biệt nền trời xuống đất làm nhiệm vụ tham mưu, đôi lúc có điều kiện tạt qua nhà mới thấy cái khó khăn thực tế của gia đình mình. Vợ tôi khi đó là công nhân nhà máy dệt mồng 8 tháng 3 đi sớm về khuya, hàng hơn chục cây số, suy dinh dưỡng người ốm tong teo. Các con tôi ốm đau, sài đẹn. Thước đất cắm dùi không có, phải ở nhờ gian nhà chật hẹp của gia đình vợ. Mẹ tôi phải đi ở nhờ nơi khác. Không hiểu sao anh Trần Mạnh biết hoàn cảnh của tôi. Anh khuyên.

- Cậu tìm 15 - 20m đất tôi sẽ cho anh em làm căn nhà nhỏ để cụ và các cháu ở tạm. -

Lúc này anh Mạnh, anh Hanh đã lên Bộ Tư lệnh Binh chủng. Tôi cảm ơn anh, vì tôi biết anh, chị Thu cùng các cháu còn đang ở căn buồng để vừa chiếc giường đôi ở chiêu đãi sở 354. Anh Trần Hanh cùng chị Xuyến còn ở nhờ căn buồng nhỏ khu tập thể Khí tượng pháo đài Láng.

Ngày đó, có câu chuyện cười ra nước mắt.

- Tôi đi cùng đơn vị chiến đấu ở Khu 4 đã lâu không về nhà. Được về họp ở Quân chủng, tôi tạt về thăm các cháu. Vừa gặp mặt tôi, vợ tôi đã oà lên khóc. Bố vợ tôi lập cập chạy ra, nắm tay tôi: Con đã về rồi ư. Tôi hốt hoảng tưởng gia đình có chuyện gì? Thì ra chuyện là thế này.

Đơn vị thấy gia đình tôi khó khăn đã gửi tiền về trợ cấp (ngày đó là rất hiếm có). Vợ tôi tưởng là tiền tuất và tôi đã hy sinh. Thấy cô khóc tức tưởi mãi không thôi, tôi an ủi.

- Anh đã về đây! Sao em khóc mãi vậy!

- Anh cứ để cho em khóc. Đã bao ngày đêm em nuốt nước mắt vào bên trong để gia đình được yên ổn.

Tôi hiểu vợ tôi cũng như các chị vợ anh em khác khi tới chiêu đãi sở thăm chồng. Chiêu đãi sở nằm dưới một đồi thông khá đẹp. Mỗi khi nghe tiếng máy bay nổ rung đất, các chị lại lên đỉnh đồi dõi theo những biên đội xuất kích. Khi đếm đủ những chiếc máy bay hạ cánh, các chị mới về. Nhiều chị còn bị tai nạn gãy tay. Con ốm đau đi bệnh viện vẫn không viết thư cho chồng, để các anh yên tâm công tác. Những người vợ chiến sĩ ấy lo lắng cho chồng như vậy, nhưng đều âm thầm chuẩn bị cho mình những điều không may xảy tới. Họ đều là những người vợ chiến sĩ xứng với tám chữ vàng Bác Hồ ban tặng "Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang".

Lúc này vợ và các con tôi chỉ sống bằng 20 đồng tiền lương tôi gửi về (lương chuẩn uý 54 đồng).

Sau bao đêm trăn trở, suy nghĩ, tôi sinh và lớn lên trong cái nôi không quân bao phen sinh tử, đồng đội, phi đội, phi đoàn, xa nó sao đành.

Xót vậy nhưng tôi mạnh dạn đề xuất xin chuyển ngành.

May quá, khi tôi đề xuất với anh Hanh. Anh không hề trách cứ, mà nhìn tôi với thái độ thông cảm anh nói:

- Tôi cho cậu đi học đại học, quân số vẫn thuộc Quân chủng. Cậu không phải thi. Sau 5 năm muốn ở lại quân đội thì ở, muốn chuyển ngành thì chuyển. Cuộc sống đỡ vất vả hơn.

Tôi cảm ơn các anh. Cảm động trước sự ưu ái của các anh, 5 năm đi học thì thà tôi ở lại Quân chủng còn hơn.

Hôm tôi xa đơn vị anh Trần Hanh cho tôi một chiếc giường bộ đội, một ít gỗ về đóng đồ đạc bàn ghế làm việc. Tôi chuyển ra công ty quản lý khai thác cát Hà Nội, ngày đầu tôi được phân công phụ xe ủi đá ở bãi đá cạnh chiêu đãi sở Quân chủng. Nhiều anh em đến thăm, giở xuất cơm thấy chỉ là cơm nguội gói trong giấy báo với mấy quả cà.

Chuyên gia Bungari sang làm việc không có người phiên dịch, tôi được đều lên văn phòng công ty. Sau đó được đề bạt trưởng phòng.

Công việc lúc này đã bớt phần vất vả, gia đình tôi cũng bớt khó khăn hơn. ít lâu sau anh Phạm Sĩ Liêm,Phó chủ tịch UBND thành phố Hà Nội định điều tôi về văn phòng UBND thành phố. Tôi từ chối cảm ơn anh, vì tôi còn nguyện vọng khác.

Anh Nguyễn Hồng Nhị về thay anh Hoàng Ngọc Diêu làm Tổng cục trưởng Tổng cục Hàng không dân dụng. Tôi gặp và trình bày nguyện vọng với anh và xin về hàng không để có điều kiện thực hiện mục đích mình ấp ủ lâu nay.

Anh đồng ý ngay. Anh là người thủ trưởng, người đồng chí, người anh cả tôi kính trọng. Chính anh đã thắp lửa, truyền lòng nhiệt tâm, giúp tôi vượt mọi khó khăn để tới với các liệt sĩ. Chính anh đã từ lâu ấp ủ ý định này, nhưng không có ai giúp thực hiện. Tôi trở về với anh khác nào nắng hạn gặp mưa rào.

Khi có điều kiện tôi cùng anh bôn ba đi khắp Bắc -Trung - Nam tu sửa tìm mộ, gắn bia cho các liệt sĩ.

Rất may nhà nhiếp ảnh Xuân át đã lưu giữ được nhiều ảnh phi công, anh cung cấp để làm bia liệt sĩ.

Song làm gì cũng phải có kinh phí. Lấy quỹ chung e không tiện. Trong lúc đang băn khoăn thì anh Nhị trao cho tôi chiếc phong bì trong đó có 5 triệu đồng góp vào quỹ "tìm đồng đội, và tu sửa phần mộ liệt sĩ không quân". Với bản quyết định còn tươi nét mực của Tổng giám đốc Cụm cảng Hàng không sân bay miền Bắc Nguyễn Xuân Hiển.

Anh Hiển cũng là một phi công, anh là trung đoàn trưởng trung đoàn không quân 918, hiện nay anh là Tổng giám đốc Tổng công ty Hàng không Việt Nam. Đa số các liệt sĩ không quân di chuyển về miền Nam đều được anh cấp vé miễn cước, đều có ghế ngồi như khách. Đây là ngoài thông lệ hàng không. Anh đã ký công văn đề nghị Văn phòng sứ quán Việt Nam tại Nga giúp đỡ đưa hài cốt liệt sĩ không quân hy sinh ở Nga về nước.

Chuyện tìm, di dời tu sửa mồ mả gắn bia cho cácliệt sĩ thì nhiều. Mỗi lần đi là một câu chuyện dài, tôi chỉ kể vài chuyện trong mấy chục chuyến đi.

Năm 1997 tôi và anh Nguyễn Hồng Nhị viếng thăm phần mộ anh Lê Quang Trung. Mộ anh đặt ở nghĩa trang huyện Phú Bình, Yên Bái. Phần mộ các anh đa số là sơ sài, có mộ chưa có bia. Tôi xúc động nhìn Thiếu tướng Nguyễn Hồng Nhị đầu bạc phơ cúi xuống nhổ những bụi cỏ dại trên mồ anh Quang Trung. Tôi vẫn giữ được tấm ảnh hôm đó với dòng chữ:

Anh đã về trong lòng đất mẹ
Để nhớ thương cho đồng đội thuở chiến chinh
Tóc đã bạc qua thời gian năm tháng
Nhớ thương anh làm đẹp chỗ anh nằm.


Cũng thời gian đó chúng tôi tới viếng, gắn bia cho anh Đặng Ngọc Ngự ở nghĩa trang Trần Hưng Đạo -Vĩnh Yên. Anh là dũng sĩ trên cao đánh giỏi 9 lần nổ súng, 7 lần bắn rơi máy bay địch. Anh hy sinh ngày 8-7-1972 đó là những ngày chiến đấu quyết liệt của bộ đội PK-KQ để chuẩn bị cho trận Điện Biên Phủ trên không tháng 12-1972. Nguyễn Ngọc Ngự được Nhà nước truy tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân ngày 11-1-1973.

Gắn bia cho liệt sĩ Nguyễn Văn Lung xong thì đã quá 12 giờ. Tôi trải tờ báo đặt nắm cơm và ít muối vừng lên vạt cỏ ở nghĩa trang An Châu - huyện Sơn Động -Bắc Giang. Đang ăn anh Nhị bỗng hỏi.

- Cậu Biên nằm đâu nhỉ?

Anh Biên là phi công MIG-17 trong biên đội Biên - Mẫn. Ngày 19-7-1966 biên đội chiến đấu tại vùng trời Vĩnh Phúc bắn rơi 1 F- 105. Ngày 29-9-1966 anh cất cánh từ sân bay Gia Lâm lên đánh máy bay không người lái. Cự ly bắn quá gần, thoát ly không kịp, máy bay đâm vào tâm nổ. Đã nhiều lần anh Nhị nhắc tôi đi tìm phần mộ anh Biên. Tôi biết các anh cùng quê ở Hoài Nhơn - Bình Định nên nghĩa tình rất sâu đậm. Đã nhiều lần tôi lên nghĩa trang Việt Trì và những nghĩa trang gần đó mà tìm không thấy. Tôi vào phòng chính sách Quân chủng. Rất may sơ đồ mộ chí của anh vẫn còn. Mộ của anh trên ngọn đồi thuộc xã Văn Luông cách Việt Trì 13km. Ngọn đồi có 6 ngôi mộ, anh nằm ở ngôi thứ 3 giữa đỉnh đồi.

Đồi núi trung du không cao. Chung quanh là đồng ruộng. Mỏm đồi bằng phẳng không phân biệt được đâu là phần mộ, ngoài những cây bạch đàn đã chặt đang mọc chồi non. Lớp dương xỉ, mẫu đơn, hoa mua phủ một tấm thảm dày. Biết Nguyễn Văn Biên nằm đâu? Chỗ nào? Sơ đồ mộ thì cũng không giúp tôi tìm được nơi anh nằm. Năm tháng đã xoá nhoà tất cả. Tôi về báo cáo anh Nhị. Anh ngồi im lặng hồi lâu rồi chậm rãi.

Được rồi! Ta có cách.

Sau đó không lâu anh điện cho tôi. Năm Chiến bay ra lúc 9 giờ. Cậu lên sân bay đón ông ta lên nghĩa trang làm việc luôn.

Tôi biết Năm Chiến là nhà ngoại cảm nổi tiếng ở vùng Đà Nẵng. Tôi đưa ông lên Việt Trì. Chỉ bằng 2 chiếc nan hoa xe đạp xoắn ở khúc giữa một vòng, nắm lỏng trên 2 tay, ông di động trên khắp khu đồi. Hai chiếc nan hoa khi khép, khi mở. ông kết luận có ba ngôi mộ chưa cải táng. Tôi rút bút đánh dấu địa điểm 3 ngôi mộ rồi về xin ý kiến địa phương, đơn vị... Vậy là 3 ngôi mộ được khai quật. Lần khai quật đó có thượng tá Phạm Quang Trung - trưởng ban chính sách Quân chủng, trung tá Lê Đình Thìn - trợ lý chính sách, anh Nhị và tôi.

Thật kỳ diệu. Vị trí 2 ngôi mộ không sai một ly, nhưng không được xác nhận. Còn ngôi thứ ba. Đúng là ngôi mộ của Nguyễn Văn Biên. Chiếc quần simini gấp để dưới chân, áo ni lông đắp trên ngực. Song không có di vật nào của không quân. Để chắc chắn chúng tôi phải đi xác định.

Tôi và đồng chí Phạm Quang Trung lên xe đến chỗ máy bay rơi. May quá, chúng tôi gặp ngay được bác Hưng, nhân chứng sự kiện hôm đó, bác kể:

- Hồi đó tôi là dân quân. Lúc đó tôi không trực ban mà đang đào giếng. Bỗng thấy đất rung lên. Sợ quá, tôi vọt lên. Máy bay cháy, đạn pháo nổ ầm ầm. Thấy cờ đỏ sao vàng trên cánh - Thôi chết! Máy bay của ta? Tôi xuống mương bốc bùn trát lên quân hiệu. Chính tay bác đã đem Biên ra khỏi buồng lái.

Không mặc quần áo cho anh được, vì anh đã biến dạng. Không còn di vật vì máy bay bốc cháy dữ dội. Vậy là đã rõ. Hôm nay chúng tôi khâm niệm anh theo truyền thống của dân tộc trong chiếc tiểu sành đỏ nâu màu đất quê hương, trên phủ lá cờ Tổ quốc. Đồng đội của anh sau bao năm tìm kiếm, rước hài cốt anh về nghĩa trang thành phố Việt Trì.

Tôi đã ghi phía sau bức ảnh của anh:

Đã lâu lắm anh nằm yên nghỉ
Sau chiên tranh tìm mãi mới thấy nhau
Đưa anh về nơi nghĩa trang lộng gió
Để muôn đời các thế hệ nhớ công lao.

Câu chuyện tìm hài cốt Nguyễn Văn Bảy (Bảy B) mới thật kỳ công.

Tôi được biết anh hy sinh trong một trận đánh không cân sức trên vùng trời huyện Bá Thước – Thanh Hoá ngày 26-5-1972 và lao xuống ngọn núi Pu Ví xã Tân Thành. Đây là vùng núi hiểm trở thuộc huyện Thường Xuân. Nhân dân còn nhớ rất rõ nơi chôn cất anh ở chân núi Lê Lai.

Nhưng không hiểu ai đó đã di dời anh đi đâu. Tôi lên đó nhiều lần tìm kiếm mà không kết quả. Nhiều cuộc họp huyện đội, phòng lao động thương binh xã hội huyện Thường Xuân, trung đoàn không quân 923 và tôi, vẫn không xác định được nơi di rời mộ người liệt sĩ. Coi như vô kế khả thi. Tôi phải vào từng thôn bản để tìm nhân chứng. Rất may gặp được ông Bùi Xuân Đức, trưởng công an xã thời bấy giờ. Nay ông đã ngoài 70 tuổi. ông rất yếu nhưng kể chuyện rất say sưa. Tôi vẫn chú ý lắng nghe nhưng chẳng hiểu gì cả, vì ông nói tiếng Mường. Sau dịch lại. Tháng 7- 1972 anh Nguyễn Văn Năm anh thứ năm của Nguyễn Văn Bảy mang theo tấm sơ đồ nơi Bảy hy sinh đạp xe lên vùng núi Thường Xuân tìm em. Địa phương nghi anh là người xấu, giữ anh lại một tháng sau khi xác minh anh mới được thả. Chính từ nguồn tin này anh Nhị đã gặp được anh Năm ở Sài Gòn. Chúng tôi xác định được mộ anh di dời về nghĩa trang huyện Quảng Xương từ những năm cuối thập kỷ 70. Bia của người anh hùng đánh trọng thương khu trục hạm Ha Bích ở vùng biển miền Trung là một miếng đá nhỏ ghi mấy chữ Nguyễn Văn Bảy, Bạc Liêu. Anh Nhị mừng lắm, thân chinh vào huyện xin đưa anh về Hà Nội để đưa về quê hương. Nhưng cơ quan, chính quyền địa phương không đồng ý. Được biết Thiếu tướng Mai Văn Cương, Phó tư lệnh Quân chủng có mối quan hệ mật thiết với tỉnh Thanh Hoá. Đặc biệt với Bí thư Tỉnh uỷ Nguyễn Trọng Quyền.

Nhờ đồng chí Mai Văn Cương giúp đỡ, tôi cầm lá thư của anh vào cơ quan Tỉnh uỷ. Đang ở văn phòng thì đồng chí Bí thư đi tới. Sau khi xem lá thư, đồng chí Bí thư gọi điện ngay sang Sở Lao động thương binh xã hội. Ông yêu cầu tôi sang đó phối hợp giải quyết. Chúng tôi đã đưa được Nguyễn Văn Bảy về Tân Sơn Nhất. Ban liên lạc Câu lạc bộ Không quân phía Nam Nguyễn Văn Bảy A, Nguyễn Thành Út, Đinh Văn Dây, đồng đội và gia đình ra tận sân bay để đón hài cốt người anh hùng.

Hài cốt các liệt sĩ được đặt tại trạm 77 của Không quân để đồng chí, đồng đội thắp hương tưởng niệm.

Nhiều đồng chí đã viết vào sổ tang ôn lại một thời oanh liệt, khó khăn gian khổ, dũng cảm kiên cường của các chiến sĩ không quân. Nhiều bài thơ được đặt lên ban thờ để nhớ thương đồng đội (phụ lục I).

Cũng tại đây trạm 77 không quân đã đón khá nhiều hệt sĩ không quân người miền Nam hy sinh trên miền Bắc trở về quê hương.

Cho tới nay tôi đã nghỉ hưu, tuy còn nhiều trăn trở duyên nợ chưa làm tròn với các liệt sĩ, song tôi cũng tự hào làm hết sức mình vì các anh hùng liệt sĩ. Để các anh hùng liệt sĩ trường tồn với non sông, đất nước, với nhân dân Việt Nam anh hùng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn