đi vì lý tưởng, đất nước
Cách đây 61 năm (năm 1965), giữa những ngày đất nước chìm trong khói lửa chiến tranh, phong trào thanh niên xung phong lan tỏa mạnh mẽ khắp miền Bắc. Bà Nguyễn Thị Bích Liên khi ấy vừa học xong lớp 7, cũng quyết định xung phong ra trận.
Thế nhưng, gia đình không đồng thuận, bởi hai anh trai đã vào quân ngũ, chị gái đi xây dựng kinh tế mới, trong nhà chỉ còn Liên cùng các em nhỏ. Hơn hết, chiến trường mà bà Liên muốn đến lại là nơi ác liệt bậc nhất.
Nhưng sự can ngăn của gia đình không thể lay chuyển ý chí của cô gái trẻ. "Mẹ tôi khóc ròng suốt 1 năm, đêm nào cũng ra cổng ngồi khóc. Năm 1965, tôi xin đi, họ bảo thôi để đến lần sau có chỗ nào đỡ vất vả hơn thì cháu hãy đi, giờ đi gian khổ lắm. Tôi bảo không, gian khổ thì cháu mới xin đi, nếu sung sướng cháu lại không đi, nhưng cuối cùng người ta cũng không cho đi", bà Liên nhớ lại.
Quyết tâm được đẩy lên đến cực điểm khi bà trích máu từ ngón tay để viết đơn tình nguyện. Lo sợ không được đồng ý nên ngay sau khi nộp đơn, bà lặng lẽ rời nhà từ sáng sớm, không một lời từ biệt, chỉ dám gửi lời nhờ những người ở nhà phân tích cho bố mẹ hiểu bà đi vì lý tưởng, đất nước, mong bố mẹ yên lòng.
Cô gái nhỏ bé, nặng chưa đến 40kg, vừa đi vừa chạy suốt quãng đường 15km lên huyện để báo danh. Trên đường, có người trêu dọa “bố mẹ đang đuổi theo”, khiến bà vừa khóc vừa chạy, nhưng bước chân không dừng lại.
Ngay cả khi khám tuyển, nỗi lo bị loại vì cân nặng quá thấp khiến bà lém lỉnh nhét hai cục gạch vào túi quần để đủ tiêu chuẩn. Khoảnh khắc khoác lên mình bộ quân phục rộng thùng thình, bà vừa cười vừa khóc.
"Tôi khóc vì hạnh phúc khi được mặc lên bộ quần áo bộ đội, được tham gia vào bộ đội. Khóc một phần vì nhớ nhà, nhớ bố mẹ và cười vì nhìn bộ quần áo mình mặc rộng quá", bà Liên kể.
Gia nhập biên chế Đội 89 (D89), C893 Thanh niên xung phong tỉnh Thái Bình ngày ấy, Nguyễn Thị Bích Liên bắt đầu những ngày tháng sống và chiến đấu trên tuyến giao thông huyết mạch. Nhiệm vụ của đơn vị là đảm bảo giao thông tuyến đường sắt từ Phủ Lý đến cầu Yên (Ninh Bình), sau đó đơn vị của bà hành quân vào Hà Tĩnh, Quảng Bình và sâu hơn nữa là tuyến Đường 9 - Nam Lào.
Tháng 7/1968, khi đơn vị hành quân vào Trường Sơn, bà Liên cùng đồng đội lập tức đối mặt với trận oanh tạc dữ dội tại làng Thanh Thạch (Quảng Bình). Bom rơi dày đặc, khói lửa mịt mù, máy bay Mỹ oanh tạc. Trong khoảnh khắc sinh tử, bà và một đồng đội chỉ kịp đẩy nhau xuống hầm trú ẩn thì bom nổ. Khi lao ra khỏi hầm theo hiệu lệnh, một đồng đội của bà đã không thể trở về.
Ở các trọng điểm như 448 đường 15A, Cổng Trời, Km39…, cái chết luôn cận kề. Có lần trở về đơn vị sau chuyến công tác, bà chứng kiến bom địch đánh trúng nơi sinh hoạt, cướp đi sinh mạng của 9 đồng đội. Chính tay bà và những người còn sống đã nén đau thương, chôn cất đồng đội trong nước mắt.
Năm 1969, bà gia nhập Đoàn Văn công “Tiếng hát át tiếng bom” thuộc Ban Xây dựng 67, Bộ Giao thông Vận tải. Từ đây, tiếng hát của bà không chỉ là niềm vui mà còn trở thành vũ khí tinh thần, tiếp thêm sức mạnh cho những người lính nơi tuyến lửa.
Năm 1970, sau 5 năm bặt vô âm tín, Nguyễn Thị Bích Liên có dịp trở lại Hà Nội công tác, đây cũng là dịp để bà đoàn tụ với mẹ và em gái. Tại quê nhà, gia đình bà từng nhận tin nhầm một người cùng tên hy sinh và đã lập bàn thờ, làm giỗ cho bà đến lần thứ hai. Cuộc gặp gỡ vì thế trở thành khoảnh khắc nghẹn ngào, đầy xúc động.
Bảy năm thanh xuân (1965-1972) của bà trôi qua trên tuyến lửa. Với những đóng góp nổi bật, bà được kết nạp Đảng ngay tại chiến trường khi mới 20 tuổi, được phong tặng danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ” và sau đó được điều về công tác tại Văn phòng Chính phủ cho đến khi nghỉ hưu.
Trở về đời thường, bà tiếp tục là một người phụ nữ giàu năng lượng và trách nhiệm xã hội. Từ công tác Hội, hoạt động thiện nguyện đến phong trào văn nghệ quần chúng, bà luôn giữ vai trò nòng cốt. Bà từng vận động hàng trăm lượt người tham gia hiến máu, trực tiếp kêu gọi hỗ trợ hàng chục triệu đồng trong thời điểm dịch Covid-19, đồng thời chăm lo cho các hoàn cảnh khó khăn, cựu thanh niên xung phong và thương binh.
Tình yêu cũng nảy nở từ chính chiến trường. Năm 1972, bà kết hôn với ông Bùi Ngọc Căn, người đồng đội trong Đoàn “Tiếng hát át tiếng bom”. Họ xây dựng gia đình, nuôi dạy ba người con trưởng thành. Sau khi chồng qua đời, bà sống cùng con cháu, tiếp tục là điểm tựa tinh thần cho cả gia đình.
Ở tuổi ngoài 70, bà vẫn tham gia tổ chức các chương trình văn nghệ, làm trưởng đoàn nghệ thuật cựu thanh niên xung phong Hà Nội, biểu diễn hàng trăm buổi mỗi năm. Với bà, đó là niềm vui, là cách giữ lửa ký ức và lan tỏa tinh thần của một thời tuổi trẻ.



