Địa đạo Củ Chi
Địa đạo Củ Chi đã đi vào lịch sử đấu tranh anh hùng của nhân dân Việt Nam như một huyền thoại của thế kỷ 20 và trở thành một địa danh nổi tiếng trên thế giới.
Nằm cách trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 70km về hướng Tây Bắc, địa đạo Củ Chi là nơi thu nhỏ trận đồ biến hóa và sáng tạo của quân và dân Củ Chi trong cuộc kháng chiến lâu dài, ác liệt suốt 30 năm chống kẻ thù xâm lược, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc.
Toàn bộ địa đạo Củ Chi có tổng chiều dài 250km, chia thành 3 tầng sâu khác nhau. Tầng cao nhất cách mặt đất 3m, tầng giữa cách 6m, tầng sâu nhất cách 12m. Ngoài khu vực để bộ đội sinh sống, trữ vũ khí, địa đạo Củ Chi còn chia làm nhiều nhánh với các khu vực hố đinh, hầm chông, bãi mìn…
Dựa vào hệ thống đường ngầm, công sự, chiến hào, chiến sỹ và nhân dân Củ Chi đã chiến đấu vô cùng anh dũng, lập nên những chiến công thần kỳ.
Với tầm vóc chiến công của mình, địa đạo Củ Chi đã đi vào lịch sử đấu tranh anh hùng của nhân dân Việt Nam như một huyền thoại của thế kỷ 20 và trở thành một địa danh nổi tiếng trên thế giới.
Du lịch địa đạo Củ Chi hiện nay ngày càng phát triển bởi đây không chỉ là điểm đến có giá trị về lịch sử, văn hóa mà còn là điểm du lịch hấp dẫn gắn liền với những công trình quân sự nổi tiếng tại Việt Nam.
Từ lâu, địa đạo Củ Chi là một trong những điểm đến thú vị nhất tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể biết đến lịch sử hình thành của điểm du lịch này.
Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954). Các chiến sỹ cách mạng ẩn náu dưới những căn hầm bí mật trong vùng địch hậu, được nhân dân che chở, bảo vệ.
Hầm bí mật cấu tạo theo nhiều cách, nhưng chủ yếu là trong lòng đất, chỉ có một miệng lên xuống vừa lọt vai người và có lỗ thông hơi để thở. Khi đóng nắp miệng hầm lại, kẻ thù đi trên mặt đất khó phát hiện được căn hầm. Người cán bộ sống trong vùng địch, ban ngày náu mình dưới hầm bí mật, ban đêm mới lên khỏi mặt đất, đi hoạt động.

Nhưng hầm bí mật có nhược điểm là khi bị phát hiện, dễ bị địch khống chế vây bắt hoặc tiêu diệt, bởi địch đông và lợi thế hơn nhiều. Từ đó người dân nghĩ rằng cần phải kéo dài căn hầm bí mật thành những đường hầm và trổ lên mặt đất bằng nhiều cửa bí mật để vừa trú ẩn vừa đánh lại quân địch, và khi cần sẽ thoát khỏi chỗ nguy hiểm đến một nơi khác.
Từ đó, địa đạo ra đời mang một ý nghĩa quan trọng đặc biệt trong hoạt động chiến đấu, công tác đối với cán bộ, chiến sỹ và đồng bào vùng ven Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định.
Ở Củ Chi, địa đạo có sớm nhất vào năm 1948 ở hai xã Tân Phú Trung và Phước Vĩnh An. Lúc đầu chỉ có những đoạn ngắn cấu trúc đơn giản dùng để cất giấu tài liệu, vũ khí, trú ém cán bộ hoạt động trong vùng địch hậu. Về sau lan rộng ra nhiều xã.
Từ năm 1961-1965 cuộc chiến tranh du kích của dân nhân ở Củ Chi đã phát triển mạnh, gây cho địch những tổn thất lớn, góp phần đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ. Sáu xã phía bắc huyện Củ Chi đã hoàn chỉnh đường địa đạo “xương sống." Sau đó, các cơ quan, đơn vị phát triển địa đạo nhánh ăn thông với đường “xương sống," thành hệ thống địa đạo liên hoàn.
Bước sang thời kỳ chống đế quốc Mỹ, địa đạo Củ Chi phát triển mạnh, nhất là đầu năm 1966, khi Mỹ dùng Sư đoàn đoàn bộ binh Số 1 “Anh cả đỏ” thực hiện cuộc hành quân lớn mang tên Crimp, càn quét, đánh phá vùng căn cứ, và tiếp theo, đưa Sư đoàn 25 “Tia chớp nhiệt đới” đến lập căn cứ Đồng Dù, liên tiếp mở các cuộc càn quét, đánh phá ác liệt lực lượng cách mạng nơi đây.
Trước sức tấn công ác liệt của Mỹ-ngụy bằng cuộc chiến tranh hủy diệt dã man, Khu ủy Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định và Huyện ủy Củ Chi đã lãnh đạo nhân dân và lực lượng võ trang quyết tâm bám trụ chiến đấu, tiêu diệt quân địch bảo vệ quê hương, bảo vệ vùng căn cứ cách mạng mang tính chiến lược quan trọng, là hướng tiếp cận và tiến công hiểm yếu đối với thủ đô ngụy Sài Gòn.
Với khẩu hiệu “một tấc không đi, một ly không rời," bộ đội, dân quân du kích, cơ quan dân chính đảng cùng với nhân dân ra sức thi đua đào địa đạo, chiến hào, công sự suốt ngày đêm, bất chấp đạn bom, mưa nắng, tích cực xây dựng “xã ấp chiến đấu” thiết lập “vành đai diệt Mỹ” thành thế trận vững chắc bao vây, tiến công tiêu hao, tiêu diệt kẻ thù.
Phong trào đào địa đạo ngày càng phát triển rầm rộ, mạnh mẽ khắp nơi, trẻ già, trai gái nô nức tham gia kiến tạo đường hầm đánh giặc. Sức mạnh ý chí của con người đã chiến thắng khó khăn.
Chỉ bằng phương tiện dụng cụ hết sức thô sơ là lưỡi cuốc và chiếc ki xúc đất bằng tre, quân và dân Củ Chi đã tạo nên công trình đồ sộ với hàng trăm km đường ngầm dọc ngang trong lòng đất, nối liền các xã ấp với nhau như một “làng ngầm” kỳ diệu.
Chỉ riêng việc chuyển tải hàng vạn mét khối đất đem đi phi tang ở một nơi khác để giữ bí mật địa đạo đã là chuyện vô cùng gian khổ, công phu. Khối lượng đất lớn như vậy được người dân đổ xuống vô số những hố bom ngập nước, đắp thành ụ mối, đổ ra đồng ruộng cày bừa, trồng hoa màu lên trên… chỉ một thời gian là mất dấu vết. Các gia đình ở khu vực “vành đai," nhà nào cũng đào hầm, hào nối liền vào địa đạo, tạo thế liên hoàn để vừa bám trụ sản xuất, vừa đánh giặc giữ làng. Mỗi người dân là một chiến sỹ, mỗi địa đạo là một pháo đài đánh giặc.
Một năm sau cuộc càn Crimp, ngày 8/1/1967, quân Mỹ mở cuộc hành quân Cedar Falls vào vùng “Tam giác sắt," nhằm triệt phá căn cứ và tiêu diệt lực lượng cách mạng.
Thời gian này hệ thống địa đạo đã đạt đến độ dài với tổng số khoảng 250km. Địa đạo Củ Chi không mang tính thụ động mà mang tính chủ động chiến đấu kết hợp với trận địa mìn trái dày đặt trên mặt đất, đã trở thành mối nguy hiểm thường nhật đối với địch trong suốt cuộc chiến tranh.
Khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi gồm địa đạo Bến Dược (Căn cứ Quân khu Sài Gòn-Gia Định (Khu A), Căn cứ Khu ủy Sài Gòn-Gia Định (Khu B) và địa đạo Bến Đình (Căn cứ Huyện ủy Củ Chi).
Hệ thống địa đạo chạy ngoắt ngoéo trong lòng đất, từ đường “xương sống” (đường chính) tỏa ra vô số nhánh dài ngắn, ăn thông với nhau, hoặc độc lập chấm dứt tùy theo địa hình. Có nhiều nhánh trổ ra sông Sài Gòn, để khi bị tình thế nguy kịch, có thể vượt qua sông sang vùng căn cứ Bến Cát (Bình Dương).
Địa đạo được chia thành 3 tầng. Tầng 1 (độ sâu khoảng 3m): Có thể chống lại được đạn pháo cũng như sức nặng của xe tăng, xe bọc thép. Nơi đây chủ yếu là các ống thông khí, bẫy rập, nhà bếp,... Tầng 2 (độ sâu khoảng 5m), có thể chống được bom cỡ nhỏ. Tầng này đa số là các lối thông đạo với hàng loạt các loại bẫy, chông, một số khu nghỉ ngơi, trú ẩn và phục kích. Tầng 3 (độ sâu khoảng 8 đến 10m, một số đoạn lên đến 12m), có thể chống được hầu hết các loại bom đạn. Tầng cuối cùng của địa đạo bao gồm nơi nghỉ ngơi của cán bộ, trạm quân y, dự trữ vũ khí, nơi sinh hoạt văn hóa và họp bàn kế hoạch tác chiến.
Trong địa đạo có nút chặn những điểm cần thiết để ngăn chặn địch hoặc chất độc hóa học do địch phun vào. Có những đoạn hẹp, phải thật gọn nhẹ mới chui qua được. Dọc theo đường hầm có lỗ thông hơi bên trên được ngụy trang kín đáo và trổ lên mặt đất bằng nhiều cửa bí mật. Vô số cửa được cấu trúc thành ổ chiến đấu, ụ súng bắn tỉa rất linh hoạt. Đây chính là chỗ bất ngờ với quân địch. Dưới những khúc địa đạo ở khu vực hiểm yếu, có đặt hầm chông, hố đinh, cạm bẫy…
Chung quanh cửa hầm lên xuống được bố trí nhiều hầm chông, hố đinh, mìn trái (gọi là tử địa), có cả mìn lớn chống tăng và mâm phóng bom bi chống máy bay trực thăng đổ chụp, nhằm tiêu diệt ngăn chặn quân địch tới gần.
Liên hoàn với địa đạo có các hầm rộng để nghỉ ngơi sau khi chiến đấu, mắc võng được. Có các nơi dự trữ vũ khí, lương thực, thực phẩm, nước uống, có giếng nước, bếp Hoàng Cầm (bếp giấu khói trong đất), hầm làm việc của các vị lãnh đạo, chỉ huy, hầm giải phẫu, nuôi dưỡng thương binh, hầm chữ A vững chắc cho phụ nữ, người già, trẻ em trú ẩn. Có những hầm lớn, mái lợp thoáng mát, bên trên ngụy trang khéo léo để hội họp, chiếu phim, biểu diễn văn nghệ…
Vào thời kỳ đánh phá ác liệt, mọi hoạt động của lực lượng chiến đấu và sinh hoạt của nhân dân đều ở dưới lòng đất. Trong điều kiện gian khổ vẫn cố gắng tạo ra cuộc sống bình thường, mặc cho trên mặt đất không ngớt bom đạn cày xới, lửa khói mịt mù… nhưng thực tế ở trong địa đạo hết sức gian khổ, là chuyện vạn bất đắc dĩ.
Do cần bảo tồn lực lượng để chiến đấu lâu dài nên phải chấp nhận mọi sự khắc nghiệt vượt quá sự chịu đựng của con người. Bởi trong lòng đất đen tối, chật hẹp đi lại rất khó khăn, phần lớn đi khom hoặc bò.
Đường hầm có nơi ẩm ướt và ngột ngạt do thiếu dưỡng khí, ánh sáng (ánh sáng chủ yếu là đèn cầy hoặc đèn pin). Mỗi khi có người ngất xỉu, phải đưa ra cửa hầm để hô hấp nhân tạo mới tỉnh lại. Vào mùa mưa, lòng đất phát sinh nhiều thứ côn trùng độc hại, nhiều nơi có cả rắn rết…
Ngay từ những ngày đầu, khi quân Mỹ đổ vào đất Củ Chi đã vấp phải sức kháng cự quyết liệt của chiến sỹ và đồng bào nơi đây. Địch bị thiệt hại về người và phương tiện chiến tranh trong các cuộc càn quét vùng giải phóng.
Sau những bất ngờ, chúng nhận ra được các lực lượng chiến đấu đều xuất phát từ dưới đường hầm, các công sự nên quyết tâm phá hủy hệ thống địa đạo lợi hại này.
Suốt trong một thời gian dài, địch liên tục tấn công đánh phá vùng căn cứ và hệ thống địa đạo hết sức khốc liệt. Chủ yếu là năm thủ đoạn sau đây:
Dùng nước phá địa đạo
Dùng đội quân “chuột cống” đánh địa đạo
Dùng chó Berger đánh phá địa đạo
Dùng xe cơ giới ủi phá địa đạo
Gieo cỏ phá địa hình
Từ sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, hình thái chiến trường có nhiều thay đổi. Địch thực hiện chiến thuật “quét và giữ," liên tục mở các cuộc hành quân phản kích ác liệt càn quét đánh phá vùng giải phóng Củ Chi, hòng đánh bật lực lượng cách mạng ra xa, tạo vành đai an toàn bảo vệ Sài Gòn. Địa đạo được cũng cố và phát triển tạo thế bám trụ vững vàng cho các lực lượng áp sát vùng ven đô, giữ vững địa bàn, lập thế trận mới chuẩn bị cho thời cơ giải phóng Sài Gòn sau này.
Cho tới mùa Xuân 1975, nhiều cánh quân lớn của Quân đoàn 3 và nhiều đơn vị chủ lực, địa phương tập kết từ đây tiến vào giải phóng thị trấn Củ Chi và dinh lũy cuối cùng của địch tại Sài Gòn, kết thúc toàn thắng cuộc kháng chiến chống Mỹ, vào lúc 11 giờ ngày 30/4/1975.
Bằng cuộc chiến tranh dân nhân vô cùng phong phú và sáng tạo, qua hai mươi mốt năm chiến đấu kiên cường, quân và dân Củ Chi đánh 4.269 trận lớn nhỏ, thu 8.581 súng các loại, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 22.582 tên địch (có hơn 10.000 tên Mỹ, 710 tên bị bắt), phá hủy trên 5.168 xe quân sự (phần lớn là xe tăng và xe bọc thép); bắn rơi và đánh hỏng 256 máy bay (chủ yếu là trực thăng), bắn chìm và cháy 22 tàu xuồng chiến đấu, phá hủy và bức rút 270 lượt đồn bót.
Để lập nên những chiến tích vinh quang, Củ Chi cũng đã chịu nhiều hy sinh to lớn. Theo thống kê, trong toàn huyện đã phải chịu 50.454 trận càn quét; 10.101 dân thường thiệt mạng; hơn 10.000 cán bộ, chiến sỹ đã hy sinh cho sự nghiệp giải phóng quê hương; 28.421 nóc nhà bị cháy; 20.000 ha ruộng rẫy và rừng bị phá…
Củ Chi được Mặt Trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu Củ Chi đất thép thành đồng. Được Chính phủ hai lần tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Tính đến nay, toàn huyện Củ Chi được tuyên dương 19 xã Anh hùng, 39 Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, 1277 bà mẹ Việt nam Anh hùng, 1.800 người được phong dũng sỹ. Được tặng thưởng hai Huân chương Thành đồng Tổ quốc và trên 500 Huân chương Quân công, Chiến công các hạng cho các tập thể và cá nhân.
Với giá trị và tầm vóc chiến công được đúc kết bằng xương máu, công sức của hàng vạn chiến sỹ, đồng bào, khu địa đạo Bến Dược (thuộc ấp Phú Hiệp, xã Phú Mỹ Hưng - huyện Củ Chi) đã được Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử quốc gia năm 1979.
Hệ thống địa đạo Bến Đình (thuộc xã Nhuận Đức - căn cứ của Huyện ủy Củ Chi trong thời kỳ kháng chiến) cũng được Bộ Văn hóa-Thông tin xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia năm 2004.
Đến năm 2015, di tích lịch sử địa đạo Củ Chi được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt./.

