“Địa lợi, nhân hòa Cao Muôn”
Đông xuân 1944, từ căn cứ ở Ba Tơ, tổ chức cứu quốc bí mật in ấn tài liệu, mở lớp huấn luyện và tìm cách xây dựng căn cứ an toàn. Tác giả cùng đồng đội vượt suối Sung, băng rừng lên vùng Cao Muôn gặp đồng bào Thượng, thuyết phục họ đoàn kết Kinh – Thượng chống thực dân. Giữa núi rừng hiểm trở, tình người mộc mạc và niềm tin son sắt đã mở ra hy vọng hình thành căn cứ du kích dựa trên “địa lợi và nhân hòa” cho phong trào cách mạng.
| Đông xuân năm 1944, Ủy ban vận động cứu quốc có thêm anh Giao họp kiểm điểm tình hình, đề ra nhiệm vụ mới: Đó là khẩn trương chắp nối với các cơ sở trung châu một thời gian tạm ngưng hoạt động để che giấu lực lượng, cần tiếp tục liên lạc với các tù trưởng người Thượng chuẩn bị lập khu căn cứ an toàn. Khẩn trương in ấn số tài liệu anh Giao mang về để mở lớp huấn luyện. Việc huấn luyện do anh Kiệt, anh Giao phục trách, nhưng chỉ tiếp xúc với từng người một để giữ bí mật. Tôi lo việc in ấn tài liệu. Nhưng lần này không thể dùng con thuyền cũ của tôi được nữa. Chúng tôi giao cho anh Khoách mua một ngôi nhà có trần bằng tre cây quấn rơm nhồi đất sét thật chắc chắn để cái "nhà in" của tôi đặt ngay trên đó. Không có đông sương, tôi nhờ các chị lên thăm chồng mua giúp rau câu biển, nấu thạch xoa đổ vào khuôn làm bàn in. Biết trên núi Cao Muôn có hai người anh em Rua và Rói kiên quyết lập căn cứ chống Tây, tôi bàn với anh Giàu đi một chuyên lên đấy. Chúng tôi mang theo vài bộ quần áo, ít thuốc men, mấy ống muối, vượt bến Buôn, ngược dòng suối Sung, gần trưa thì đến chân núi. Dừng lại nghỉ ở cửa rừng, trước mặt tôi là hai dãy núi cao, một con đường hẻm nằm kẹp ở giữa, lau lách cây rừng mọc lan ra gần lấp lối đi. Tôi hỏi: - Con bao xa nữa thì đến buôn? Anh Giàu nhẩm tính một lúc rồi trả lời: - Đi đến chừng nào ông mặt trời quấn dưới chân mình thì gặp người của họ. Chúng tôi kẻ trước người sau, bám vào cây rừng, leo theo con đường dốc đứng. Mồ hôi thấm ướt cả quần áo. Đến khi tụt được sang dốc bên kia thì trước mặt tôi là một cánh đồng rộng với những chân ruộng bậc thang. Gió đại ngàn tràn qua đỉnh dốc men theo sườn núi làm lay động cây rừng. Nhưng khi gió đổ vào cánh đồng thì loãng ra làm nổi sóng biển lúa xanh rờn. Không khí mát dịu. Tôi đưa mắt nhìn ra xung quanh, chỉ thấy vài chòi lúa bỏ trống, không người canh giữ. Nhìn địa thế hiểm trở tôi bảo anh Giàu: - Chỗ này "bờ ró tà dẻ" (đánh giặc) tốt đấy. - Ừ, mấy lần lính đồn lên đây, có thằng bị tên thuốc độc bò xác. Chúng tôi leo qua các chân ruộng bậc thang lần tìm vào buôn. Đang đi bỗng tôi phát hiện thấy có nhiều người trai, gái, già, trẻ tay cầm ná, cầm mác chạy nhanh ra bốn phía rừng. Tôi đoán họ chạy về các vị trí bố phòng đã sắp sẵn. Chỉ còn lại một người già tay lăm lăm cây mác ra chắn lối chúng tôi. Giọng ông già vang lên, sắc lạnh: - Lăm ti lé? (Đi đâu đấy). Tôi trả lời lại bằng tiếng dân tộc: - Tôi là người an trí ở Ba Tơ lên tìm các anh bàn chuyện đánh Tây. Ông già quay sang anh Giàu, hỏi: - Gió ủ? (Đúng không?). - Gió! Gió! (Đúng ! Đúng). - Anh Giàu trả lời. Vẻ căng thẳng trên khuôn mặt ông chợt biến mất. Ông nhìn tôi gật gật đầu, mỉm cười. Tôi bước lại nắm cánh tay ông. Cả thân hình ông như cây gỗ lim nấm mốc, dưới chân những mụn ghẻ lở loét. Ông đưa chúng tôi băng qua một ngọn đồi lau lách ngập đầu đến một cái gò trống, chỉ tay về phía mé rừng: - Nhà tao ở đó. Tôi nhìn theo hướng tay ông thấy bốn năm nóc nhà, mái tranh phên tre đã mục nát. Ông tiếp tôi ở đầu tra trên chiếc chiếu rách nát. Tôi liếc nhìn vào nhà thấy một người đàn bà và hai đứa nhỏ đang ngồi bên bếp lửa ăn sắn luộc. Tôi nói với ông già: "Chúng tôi là những ngươi cộng sản nổi dậy đánh Tây, bị nó bắt tra tấn tù đày rồi đưa lên an trí ở Ba Tơ". Tôi cũng giải thích nguyên nhân vì đâu người Kinh người Thượng sống nghèo khổ, cơm không đủ ăn, quần áo không có mặc, ôm đau không có thuốc... còn bị quan Tây, quan ta bắt đi xâu nạp thuế... Ông già chăm chú nghe, gật đầu tâm đắc. - Lâu nay tao có nghe Tây bắt tù cộng sản lên an trí ở Ba Tơ, nhưng chưa thấy, chưa gặp bao giờ. Nay mày lên đây nói cái điều phải, trúng cái bụng tao nghĩ. Thì ra người Kinh, người Thượng nói chung cái miệng, nghĩ chung cái bụng. Vậy mà Tây nói người Kinh khinh ghét người Thượng, xúi chúng tao đâm, giết người Kinh. Thằng Tây ác quá, độc quá. - Già nói đúng, thằng Tây muốn Kinh, Thượng ghét nhau như bó đũa chia ra để nó bẻ gãy cho dễ. Bây giờ Kinh, Thượng hợp sức đánh nó, như bó đũa nhập lại Tây không bẻ gãy được. Tây giam người cộng sản, nhưng nó không giam được cái bụng người cộng sản muốn đánh Tây. Nay tôi lên đây là muốn nhờ già giúp tôi gặp anh Rua anh Rói bàn chuyện đánh Tây. - Tao tin cái bụng mày nghĩ như suối Sung, cái miệng mày nói như tiếng chim rừng hót hay, nhưng còn việc gặp Rua, Rói thì khó lắm. Chẳng biết nó ở đâu mà tìm. Lâu lâu nó mới ra đây đổi muối, đổi rựa. Khi nào gặp tao nói lại, coi cái bụng nó nghĩ sao? Nó chịu gặp tao mới dám dẫn mày đến, còn đi thế thì chông thò nó gài đâm mày chết mà dân làng còn bị phạt vạ. Thế là hy vọng của tôi còn biết bao khó khăn mới thực hiện được. Tôi rảo bước qua đám cỏ may, cùng ngồi trên gộp đá, tôi chỉ về phía đông hỏi ông: - Kia là vùng nào? - Đó là đèo Eo Chim, có đường từ vùng Cơ Nhất sang huyện lỵ Minh Long, ở đó cũng có người Kinh. Trước mặt tôi, xa xa đằng đông là những cánh rừng già trên dãy núi tai mèo trải dài về phía nam qua đèo Đá Chát, chen giữa các thung lũng là những cánh đồng lúa. Nhiều buôn làng người Thượng trên lưng chừng đồi núi. - Qua nhiều mùa rẫy - Ông già nói tiếp - Cái đầu tao không nhớ, người Kinh có lên vùng Cơ Nhất này bày dân đánh Tây. Tôi bỗng nhớ lại có lần cụ Trần Toại kể cho nghe trong phong trào Duy Tân và cả những năm 30, 31 ta có cử cán bộ lên vùng Cơ Nhất lợi dụng địa thế hiểm trở, lòng dân thuận hòa để xây dựng căn cứ. Trong tôi bỗng bùng lên một ý nghĩ, phải chăng nơi đây hội tụ hai yếu tố quan trọng nhất cho việc xây dựng một vùng căn cứ du kích đánh Tây đó là "địa lợi và nhân hòa". Mặt trời gác trên ngọn núi Cao Muôn chiếu những tia nắng rục rỡ xuống các cánh rừng chung quanh. Ông già chỉ tay về phía tây, nơi chiếc cầu vồng ngũ sắc hiện ra, một chân cắm vào rừng xanh, một chân chôn vào núi đá: - Ông trời cho dân tao đấy, cứ mặt trời sắp đi ngủ thì nó lại nổi lên. Tôi nhìn theo hướng tay ông và thấy ở đấy có thác nước đổ ào ào. Trên cao giội xuống tung bọt trắng xóa tạo nên một lớp sương mù khiến cảnh vật xung quanh vừa như thật lại như mơ. Thấy tôi định ra về ông ngăn: - Mày ở lại nói cho tao nghe thêm điều phải điều trái, về bây giờ không kịp đâu mà dọc đường sẽ gặp con cọp đi tìm mồi nó vồ mất thôi. Chiều hôm ấy tôi mặc tấm áo cho cháu bé đang ở trần như nhộng và tặng cho ông già một ít thuốc xittôvaxôn để chữa bệnh ghẻ, sâu quảng. Anh Giàu dốc hết túi gạo mang theo cho gia đình. Ông già thết chúng tôi một bữa cơm cõng khoai và thịt chuột, chấm muối ớt. Ông luộc một quả trứng gà dành riêng cho tôi: - Thằng cộng sản an trí ốm lắm, ăn cái này cho mạnh cái chân leo lên đây bày cho dân Thượng đánh Tây. Ông đặt quả trứng vào tay, đôi mắt già ngước nhìn tôi đầy cảm mến. Ngọn lửa trong bếp bốc cao, in bóng ba chúng tôi lung linh trên vách nứa. Sớm hôm sau ông già tiễn chúng tội một đoạn đường. Trước lúc chia tay ông còn dặn hết con trăng nữa thì lên. Chúc mạnh khỏe. Ú cá cát lé! Ông chào. - Ú cá cát lé - Tôi chào lại. Chúng tôi chia tay nhau đầy quyến luyến. |



