Điểm cao mang tên người anh hùng
Anh ấy là con trai duy nhất, bố là lão thành cách mạng hồi chống Pháp, không phải đi bộ đội, nhưng anh ấy nhất quyết xung phong nhập ngũ
Anh ấy là con trai duy nhất, bố là lão thành cách mạng hồi chống Pháp, không phải đi bộ đội, nhưng anh ấy nhất quyết xung phong nhập ngũ", chị Phạm Thị Tươi (60 tuổi, em gái anh hùng - liệt sĩ Phạm Ngọc Yểng, hiện đang ở xã Việt Hòa, H.Khoái Châu, Hưng Yên) kể với tôi.
Ông Phạm Văn Uyển (1927 - 2012) và bà Hoàng Thị Thuế (1929 - 1987) sinh con trai đầu Phạm Ngọc Yểng năm 1953 và sau là 3 cô con gái (Phạm Thị Xuyên, 1960; Phạm Thị Tươi, 1964; Phạm Thị Chuyển, 1968).

Tháng 8.1971, đang học lớp 10, chàng trai Phạm Ngọc Yểng cương quyết nhập ngũ, vào chiến đấu trong chiến trường miền Nam. Sau ngày thống nhất, anh cùng đơn vị ra bảo vệ biên giới Lạng Sơn.
Tháng 2.1979, Phạm Ngọc Yểng là trung úy - Chính trị viên Đại đội 2 (Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 12, Sư đoàn 3), chốt giữ đồi Thâm Mô (thị trấn Đồng Đăng, H.Cao Lộc). Từ rạng sáng 17.2.1979, quân xâm lược tập trung hỏa - binh lực hòng đánh chiếm Thâm Mô, nhưng đã bị bộ đội ta đánh trả quyết liệt.
Mờ sáng ngày 22.2, sau khi tăng lực lượng, Sư đoàn 63 địch có xe tăng và pháo binh chi viện, mở đợt tấn công toàn diện vào điểm cao Thâm Mô. Những trận chiến đấu giằng co diễn ra quyết liệt. Các chiến sĩ y tá, nuôi quân, liên lạc cũng quần đánh địch từ khu nhà văn hóa đại đội đến hầm chỉ huy. Sau 5 ngày chiến đấu, Đại đội 2 chỉ còn lại 20 chiến sĩ, do chính trị viên Phạm Ngọc Yểng chỉ huy.

Chiều 26.2, địch tập trung đánh chiếm đồi Thâm Mô. Bộ đội ta đánh địch bằng mọi thứ có trong tay, từ súng đạn đến đất đá và tay không. Xẩm tối, địch lại ồ ạt tổ chức đợt tấn công cuối cùng. Trung úy Phạm Ngọc Yểng chỉ huy 10 chiến sĩ còn lại của đại đội, sau khi bắn hết đạn đã đánh giáp lá cà với địch và anh dũng hy sinh.
Đại tá Phan Văn Thắng kể lại: "Địch chiếm trận địa, chúng tôi hết đạn, rút về công sự của Yểng, thấy anh ấy ngồi tựa lưng vào vách hào, bàn tay phải còn nắm chặt khẩu K.54. Từ đó, chúng tôi gọi đồi Thâm Mô là đồi Phạm Ngọc Yểng"…
"Anh ấy cao lắm, đi qua cửa nhà cứ phải cúi xuống. Cuối năm 1978 anh về phép, định cưới vợ, nhưng vì tình hình biên giới căng thẳng, phải trở về đơn vị, nên hoãn lại qua tết", chị Tươi nhớ lại vậy.
Chị Tươi bần thần: Anh Yểng hy sinh, bà Thuế đêm nào cũng xuống bếp ngồi khóc. Đơn vị về đón bố mẹ liệt sĩ lên nhận danh hiệu anh hùng, bà cũng từ chối, để mình ông Uyển đi thay. Héo hon ốm đau mãi, đến 1987 bà mất. Trước khi nhắm mắt, vẫn không quên dặn chồng: "Ông cố gắng đưa thằng bé về".

Năm 1991, gia đình lên Nghĩa trang Cao Lộc đưa liệt sĩ Phạm Ngọc Yểng về quê. Do thời ấy chưa cho di chuyển hài cốt liệt sĩ, nên phải… bốc trộm, bỏ vào túi du lịch, xách tay theo xe khách. Khi đưa di cốt lên, chị Tươi sờ thấy 1 miếng vỡ ở ngay giữa trán anh mình, liệt sĩ Phạm Ngọc Yểng.


