ĐIỂM CHẠM GIỮA HAI THẾ HỆ: NHỮNG MẦM XANH TRÊN CHIẾC XE KHÔNG KÍNH
Ở độ tuổi đôi mươi, hành trang bước vào đời của tôi và những người bạn đồng trang lứa mang một lăng kính thật êm đềm. Là những cô cậu sinh viên đang theo học tại Trường Đại học Đà Lạt , chúng tôi có đặc quyền được tự do mơ mộng, được ung dung dạo bước dưới những hàng thông reo trong sương sớm mà không bao giờ phải nơm nớp lo sợ tiếng còi báo động. Chúng tôi đang được sống, được cống hiến và hít thở trọn vẹn dưới một bầu trời hòa bình rợp bóng mát.
Ở độ tuổi đôi mươi, hành trang bước vào đời của tôi và những người bạn đồng trang lứa mang một lăng kính thật êm đềm. Là những cô cậu sinh viên đang theo học tại Trường Đại học Đà Lạt , chúng tôi có đặc quyền được tự do mơ mộng, được ung dung dạo bước dưới những hàng thông reo trong sương sớm mà không bao giờ phải nơm nớp lo sợ tiếng còi báo động. Chúng tôi đang được sống, được cống hiến và hít thở trọn vẹn dưới một bầu trời hòa bình rợp bóng mát.
Nhưng khi bắt tay vào thực hiện Đề án ‘Những câu chuyện thời hoa lửa’, lần giở lại những trang tư liệu cũ, tôi bỗng khựng lại trước một con số: 17 tuổi. Đó là độ tuổi mà người thanh niên xứ Nghệ - Nguyễn Duy Châu - gác lại bút nghiên để khoác lên mình màu xanh áo lính. Khoảng cách giữa tôi của hiện tại và ông của năm 1965 ấy không chỉ là hơn nửa thế kỷ thời gian, mà là lằn ranh nghiệt ngã giữa hòa bình và bom đạn. Từ câu chuyện của người cựu binh lái xe trên tuyến lửa Trường Sơn năm ấy, tôi đã tìm thấy những định nghĩa hoàn toàn khác về tuổi trẻ.
Bản khiêu vũ giữa ranh giới tử thần
Thế hệ trẻ chúng tôi ngày nay thường tự hào về khả năng làm việc ‘đa nhiệm’. Chúng tôi quen với việc mở hàng chục tab trình duyệt cùng lúc, vừa chạy deadline bài tập, vừa trả lời tin nhắn, và gọi đó là ‘áp lực’. Nhưng khi đặt cạnh sự ‘đa nhiệm’ của thế hệ bác Châu, tôi chợt thấy sự bận rộn của mình thật nhỏ bé và quá đỗi an toàn. Trên cabin chiếc ZIL-130 rung bần bật, người lính Trường Sơn phải vắt kiệt mọi giác quan cùng một lúc: mắt căng ra nhìn xuyên màn đêm đặc quánh, tai dỏng lên nghe tiếng động cơ máy bay rít gầm trên đỉnh đầu, tay vần vô lăng lách qua hố bom, và một trái tim phải duy trì nhịp đập của sự bình tĩnh tột độ. Đó là một ván cược mà cái giá phải trả không phải là một điểm số thấp hay một dự án thất bại, mà là máu, là sinh mệnh của bản thân và đồng đội.
Những con số khô khan trong sách lịch sử không thể diễn tả hết cái rợn ngợp của Trường Sơn khi màn đêm buông xuống. Kẻ thù trên không không chỉ có bom rơi đạn lạc, mà còn là ‘bóng ma’ AC-130 mang theo thiết bị hồng ngoại và khuếch đại ánh sáng, sẵn sàng biến bất cứ nguồn sáng nào thành mục tiêu của những trận mưa bom tọa độ. Để sinh tồn, những người lính chọn cách làm bạn với bóng tối. Họ lấy bùn đất, mỡ xe trét đặc cả đèn gầm, chỉ chừa lại một khe sáng le lói bằng đúng hạt đậu. Hãy thử tưởng tượng việc điều khiển một cỗ máy khổng lồ cõng trên lưng 5 tấn đạn dược, bò trườn trên con đường đất đỏ lầy lội, hẹp chỉ vừa một vết bánh xe.
Tuyến đường Trường Sơn lịch sử. (Ảnh tư liệu).
vietnamplus.vn
Là một sinh viên học Luật, tôi quen với việc mọi thứ đều phải có hành lang an toàn, có những quy tắc và ranh giới rõ ràng. Nhưng ở cung đường Trường Sơn năm ấy, ranh giới giữa sự sống và cái chết mỏng manh đến mức không thể đong đếm bằng bất kỳ thước đo hay lằn ranh nào. Bên phải là vách núi đá dựng đứng chực chờ sạt lở, bên trái là vực thẳm sâu hun hút đen ngòm. Không có chỗ cho dù chỉ một phần mười giây lơ đãng. Một nhịp chân phanh trễ nhịp, một cú đánh lái chệch hướng, cả người và xe sẽ ngay lập tức bị nuốt chửng vào bóng đêm.
Thế nhưng, điều kỳ diệu là trong lời kể của người lính già lại không hề có sự bi lụy hay oán than. Nhắc về những đêm cận kề tử thần ấy, bác Châu hóm hỉnh ví von: tay lái Trường Sơn ‘múa còn dẻo hơn văn công’. Đùa đấy, mà lại là sự thật tàn khốc! Giữa tâm chấn của sự hủy diệt, tiếng cười tếu táo mộc mạc ấy trở thành chiếc áo giáp vô hình bảo vệ tâm hồn những chàng trai vừa rẽ ngang tuổi học trò. Tôi chợt nhận ra, sự vĩ đại của họ không chỉ nằm ở việc họ dũng cảm tiến lên, mà là cách họ vượt qua nỗi sợ hãi tột cùng để biến sự khắc nghiệt thành một ‘bản khiêu vũ’ của lòng kiêu hãnh. Bằng một tinh thần thép phi thường, họ khước từ sự đầu hàng, vươn lên làm chủ tay lái, và biến những hiểm nguy không tưởng thành một nghệ thuật sinh tồn tuyệt đích.
Sự thật phía sau những vần thơ
Tôi từng học ‘Bài thơ về tiểu đội xe không kính’ của Phạm Tiến Duật trên ghế nhà trường. Nhưng lịch sử qua lăng kính của người trong cuộc luôn trần trụi và sáng tạo hơn thế. Những chiếc xe tháo tung kính chắn gió không chỉ vì bom giật bom rung, mà còn bởi lớp bụi đỏ đặc quánh của Trường Sơn và bóng tối mịt mùng khiến tấm kính trở thành chướng ngại vật.
Tháo kính là đối diện với bom bi dội thẳng vào buồng lái. Và cách mà thế hệ đi trước phản kháng lại vũ khí tối tân của đế quốc khiến một người trẻ như tôi phải ngả mũ thán phục: Những chiếc giàn nứa bện chặt dày nửa mét lợp trên nóc xe. Mặc một chiếc áo giáp 28kg, đầu đội mũ sắt, họ cứ thế đạp ga rẽ sóng lao đi. Bom nổ ràn rạt trên đỉnh đầu, nhưng xe vẫn tiến về phía trước.
Sự tàn khốc của chiến tranh hiện lên rõ nét nhất qua cung đường Lằng Khằng ám ảnh: ‘Ngày đi thì có, ngày về thì không’. Hình ảnh người lính trẻ Nguyễn Duy Châu lao xuống giữa mưa bom, cõng người chỉ huy bị thương và xót xa ôm thi thể người đồng đội đã khuất lên xe để thoát vòng vây khiến sống mũi tôi cay cay. Máu của họ đã thấm đẫm từng tấc đất Trường Sơn, để đổi lấy một con đường sống cho miền Nam ruột thịt.
Những mầm đỗ nảy nở trong buồng lái
Điều khiến tôi ám ảnh và xúc động nhất trong câu chuyện này không phải là đạn bom, mà là hình ảnh những thùng giá đỗ. Trong những chuyến đi ròng rã hàng tháng trời sang căn cứ nước bạn Campuchia, giữa vòng vây của sự chết chóc, những người lính ấy đã ủ một thùng đỗ ngay trên xe. Bom vẫn rơi, xe vẫn chạy, và những mầm xanh vẫn vươn lên trắng muốt.
Đó chẳng phải là ẩn dụ tuyệt đẹp nhất cho sức sống của dân tộc Việt Nam hay sao? Bất chấp sự hủy diệt, mầm sống và niềm hy vọng vẫn luôn nảy nở.
Nhà thơ Phạm Tiến Duật đã viết: ‘Chỉ cần trong xe có một trái tim’. Nhờ đi sâu vào những câu chuyện như của Đại úy Nguyễn Duy Châu, Đề án ‘Thời hoa lửa’ của chúng tôi đã tìm thấy nhịp đập của trái tim ấy. Trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay không chỉ là cúi đầu biết ơn, mà là phải dùng công nghệ, dùng tiếng nói của thời đại mới để giữ cho nhịp đập Trường Sơn ấy vang vọng mãi. Để những mầm xanh từ thời hoa lửa tiếp tục bén rễ và trở thành điểm tựa tinh thần vững chắc cho tương lai.



