DIỄN BIẾN CHIẾN DỊCH LỊCH SỬ ĐIỆN BIÊN PHỦ
Ngày 20/11/1953, Nava cho quân nhảy dù xuống cánh đồng Mường Thanh và đánh chiếm Điện Biên Phủ. Sau khi cân nhắc vị trí chiến lược của Điện Biên Phủ, ngày 3/12/1953 Nava đi tới quyết định xây dựng Điện Biên Phủ thành tập đoàn cứ điểm mạnh, bố trí những đơn vị thiện chiến chiếm giữ. Với kế hoạch phòng thủ nghiêm ngặt, Nava hạ quyết tâm lấy Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến lược với bộ đội chủ lực Việt Nam. Đờ Cát được chỉ định làm chỉ huy trưởng tập đoàn cứ điểm quan trọng này.
DIỄN BIẾN CHIẾN DỊCH LỊCH SỬ ĐIỆN BIÊN PHỦ Ngày 20/11/1953, Nava cho quân nhảy dù xuống cánh đồng Mường Thanh và đánh chiếm Điện Biên Phủ. Sau khi cân nhắc vị trí chiến lược của Điện Biên Phủ, ngày 3/12/1953 Nava đi tới quyết định xây dựng Điện Biên Phủ thành tập đoàn cứ điểm mạnh, bố trí những đơn vị thiện chiến chiếm giữ. Với kế hoạch phòng thủ nghiêm ngặt, Nava hạ quyết tâm lấy Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến lược với bộ đội chủ lực Việt Nam. Đờ Cát được chỉ định làm chỉ huy trưởng tập đoàn cứ điểm quan trọng này. Điện Biên Phủ là chiến dịch rất quan trọng được Đảng và Bác Hồ đặc biệt quan tâm. Cả nước nô nức lên đường thực hiện khẩu hiệu: Tất cả cho tiền tuyến, tất cả cho chiến thắng. Căn cứ vào lực lượng và bố trí cụ thể của địch, đồng thời để khắc phục hậu cần, thượng tuần tháng 12/1953, ta chủ trương thực hiện phương châm “đánh nhanh thắng nhanh” trong vòng 3 đêm 2 ngày. Đến cuối tháng 1/1954, lực lượng địch lên tới 12.000 tên với hệ thống công sự phòng ngự vững chắn, phương tiện chiến tranh được Mỹ viện trợ giúp đỡ, để đảm bảo chắc thắng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp quyết định chuyển sang phương châm “đánh chắc tiến chắc”. Bộ đội công binh khắc phục muôn vàn khó khăn xây dựng Sở chỉ huy chiến dịch tại Mường Phăng. Thực hiện phương châm “đánh chắc tiến chắc” bộ đội ta kéo pháo ra để làm hầm cho pháo. Chiến dịch Điện Biên Phủ được diễn ra trong 56 ngày đêm ác liệt và được chia thành 3 đợt tấn công: Đợt tiến công thứ nhất bắt đầu từ ngày 13/3 đến ngày 17/3/1954. Nhiệm vụ đợt này là tiêu diệt các vị trí vòng ngoài của địch, ở phía Bắc và Đông Bắc gồm Him Lam, Độc lập và Bản Kéo. Đúng 17h ngày 13/3/1954, đại đội lựu pháo 806 bắn những loạt đạn đầu tiên vào trung tâm đề kháng Him Lam mở màn cho chiến dịch. Trung tâm đề kháng Him Lam là một trung tâm phòng ngự kiên cố nhất của địch. Him Lam thuộc phân khu trung tâm, cách Mường Thanh 2,5km - Him Lam có nhiệm vụ che chở cho phân khu trung tâm và ngăn chặn bộ đội ta đánh vào phân khu Bắc. Tại đây Nava bố trí một tiểu đoàn lê dương thiện chiến chiếm giữ gồm 3 cứ điểm yểm hộ lẫn nhau có trận địa phòng ngự vững chắc với nhiều hỏa điểm lợi hại. Cuộc chiến đấu diễn ra rất quyết liệt, kéo dài hơn 5h30’, đến 22h30’ ta làm chủ hoàn toàn cứ điểm Him Lam, tiêu diệt và bắt sống gần 500 tên địch, thu nhiều vũ khí, đạn dược. Lá cờ "Quyết chiến quyết thắng” đã được cắm lên cứ điểm Him Lam. Trong trận mở màn, xuất hiện gương chiến đấu dũng cảm của Phan Đình Giót, anh đã lấy thân mình lấp lỗ châu mai tại mỏm 2 để tạo điều kiện cho bộ đội xung phong tiêu diệt địch. Thất thủ ngay tại trận mở màn, Đại tá Pirốt chỉ huy pháo binh của thực dân Pháp tại Điện Biên Phủ bất lực trước pháo binh Việt Nam, đã tự sát. Phát huy truyền thống đánh thắng trận mở màn, 3h30’ ngày 15/3/1954 ta tấn công đồi Độc lập. Cứ điểm Độc lập nằm trên quả đồi dài 700m, rộng 150m, cách Mường Thanh 4km, do một tiểu đoàn Bắc Phi tăng cường chốt giữ. Vị trí Độc lập có
Tại đồi E, khẩu đội Phùng Văn Khầu chiến đấu thông minh, sáng tạo, tiêu diệt nhiều hỏa điểm địch, sau này đồng chí được tuyên dương anh hùng lực lượng vũ trang.
Ngay trong đợt 2, các vị trí 106, 105, 206.... của thực dân Pháp đã bị bộ đội ta đánh chiếm.
Ngay từ hạ tuần tháng 3/1954, bộ đội cao xạ và bộ đội pháo binh hoạt động mạnh, máy bay địch không hạ cánh xuống sân bay Mường Thanh được, phải bay cao thả dù, nhiều dù hàng bay sang trận địa phòng ngự của ta. Từ trung tuần tháng 4/1954 phong trào thi đua “Săn tây bắn tỉa” của bộ đội ta càng làm cho địch hoang mang, tuyệt vọng. Đối với địch, Điện Biên Phủ đã trở thành địa ngục trần gian, cái chết đến với chúng bất cứ lúc nào.
Được sự chi viện của hậu phương về cả tinh thần và vật chất, các chiến sỹ Điện Biên Phủ lạc quan tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng của chiến dịch.
Bộ chỉ huy mặt trận quyết định mở đợt tấn công thứ 3. Đợt tấn công cuối cùng bắt đầu vào đêm 1/5/1954. Nhiệm vụ đợt chiến đấu này được xác định cụ thể là: Đánh chiếm và tiêu diệt các cứ điểm còn lại của địch, uy hiếp tung thâm chớp thời cơ tiến hành tổng công kích.
Phối hợp chặt chẽ với bộ binh, pháo binh và cao xạ hoạt động mạnh, làm cho địch tiếp tục hoảng loạn.
Các đại đoàn bộ binh nhanh chóng đánh chiếm C1, A1, các vị trí ở dưới chân các ngọn đồi phía đông, tiến đánh khu trung tâm Mường Thanh. Chớp thời cơ, 15h ngày 7/5/1954, quân ta được lệnh mở cuộc tổng công kích vào tập đoàn cứ điểm.
17h30’ ngày 7/5/1954, quân ta đánh chiếm sở chỉ huy địch và bắt sống tướng Đờcáttơxri. Tiêu diệt và bắt sống 16.200 tên địch, bắn hạ 62 máy bay và thu toàn bộ kho tàng, vũ khí của thực dân Pháp tại Điện Biên Phủ.
Phối hợp chặt chẽ với mặt trận Điện Biên Phủ, các chiến trường trong cả nước đẩy mạnh chiến tranh du kích, đánh phá kho tàng, sân bay, đánh phá giao thông, tiến tới giải phóng hàng loạt các tỉnh.
Cuối cùng thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ cuốn cờ, rút quân khỏi miền Bắc Việt Nam.
Chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra trong năm mươi sáu ngày đêm. Diễn biến của chiến dịch được chia làm ba giai đoạn. Đợi 1, từ ngày 13 đến 17 tháng 3 năm 1954, quân ta đã tiêu diệt hai cứ điểm là Him Lam và Độc Lập, mở toang cánh cửa phía Bắc và Đông Bắc. Đợt 2, từ ngày 30 tháng 3 đến ngày 30 tháng 4 năm 1954, quân ta kiểm soát các điểm cao, khu trung tâm Điện Biên Phủ nằm trong tầm bắn. Quân địch rơi vào thế bị động, mất tinh thần cao độ. Đợi 3, từ ngày 1 đến 7 tháng 5 năm 1954, quân ta tổng công kích tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đến ngày 7 tháng 5 năm 1954, chiến dịch Điện Biên Phủ hoàn toàn thắng lợi. Tập đoàn cứ điểm “mạnh nhất Đông Dương” - “pháo đài bất khả xâm phạm” của thực dân Pháp đã bị đánh bại.



