Điện Biên Phủ Đỉnh cao nghệ thuật chiến tranh
Trong cuốn “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội tiến lên giành những thắng lợi mới”, Tổng Bí thư Lê Duẩn khẳng định “trận Điện Biên phủ vĩ đại – đã được ghi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa trong thế kỷ XX”, vì sao?
Thực dân Pháp nổ phát súng đầu tiên xâm lược và cai trị nước ta vào năm 1858. Sau gần 100 năm bị áp bức, đô hộ của thực dân đế quốc, dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đã làm nên kỳ tích Điện Biên phủ - nơi được xem là "pháo đài khổng lồ không thể công phá". Điện Biên phủ không chỉ là minh chứng cho cuộc đọ sức giữa chính nghĩa và phi nghĩa, giữa lực lượng hùng hậu và tối tân lúc đó của thực dân Pháp với quân dân Việt Nam binh lực, quân trang quân dụng thiếu và yếu, mà quan trọng hơn là ý nghĩa và giá trị lịch sử của chiến thắng. Chiến thắng Bạch Đằng (1288) của quân dân nhà Trần, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông, một kẻ thù mạnh và tàn bạo nhất thế giới lúc bấy giờ, bảo vệ độc lập toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của Đại Việt. Chiến thắng Chi Lăng (1427) của quân dân nhà Lê, với tuyên bố hùng hồn của “Bình Ngô đại cáo” đã đánh bại hoàn toàn quân xâm lược nhà Minh, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc. Còn chiến thắng Đống Đa (1789) lại là bản cáo chung cho quân xâm lược nhà Thanh. Đại quân Tây Sơn của Nguyễn Huệ đã quét sạch quân xâm lược từ đằng trong ra đằng ngoài, nhất thống Bắc – Nam. Mỗi chiến thắng đều là bước ngoặt lịch sử của dân tộc, đánh bại hoàn toàn một kẻ thù xuân lược, mở ra một kỷ nguyên mới cho đất nước. Vì thế, chiến thắng Điện Biên phủ sau 9 năm ròng rã quân dân “khoét núi ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt, máu trộn bùn non”, đã chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp kéo dài từ thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX và “đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi đột phá thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc”. So sánh Điện Biên Phủ với Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa không chỉ về ý nghĩa lịch sử, giá trị độc lập, tự do mang lại cho dân tộc từ chiến thắng mà còn bởi quy mô, hào khí và việc vận dụng tài tình chiến lược quân sự lấy dân làm gốc, sau nay gọi là chiến tranh nhân dân. Từ tướng sỹ của Hưng Đạo đại vương đến nghĩa quân Lam Sơn của Lê Lợi, từ nghĩa quân Tây Sơn của Quang Trung đến bộ đội Cụ Hồ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến sau này… đều từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ, chiến đấu.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà kết thúc bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là một cuộc kháng chiến được thực hiện ngay sau khi đất nước vừa giành độc lập, vị thế chính trị chưa vững chắc, ngân khố cạn kiệt, nhân dân đói khổ, lực lượng vũ trang nhỏ yếu, giặc đói giặc dốt bủa vây. Vì thế, Đảng ta, quân dân ta dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và tổng chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã vận dụng sáng tạo và linh hoạt đường lối chiến tranh toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính, kết hợp lực lượng chính trị hùng hậu của quần chúng cách mạng với lực lượng vũ trang, tạo nên "vành hoa đỏ, thiên sử vàng" cho Việt Nam ở thế kỷ XX từ chiến thắng Điện Biên phủ thần kỳ.




