Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Điện Biên Phủ trên không

Tối ngày 18-12-1972, trời đặc biệt lạnh và có mưa tại một ngôi làng nhỏ ở Nghệ An. Khi ấy, Đinh Hữu Thuần, Đại đội trưởng Đại đội ra-đa 45, Trung đoàn ra-đa 291, Quân chủng Phòng không - Không quân, đang làm nhiệm vụ

Lai Châu29/04/2026Nguồn báo Quân ội Nhân dân2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đại đội trưởng Đinh Hữu Thuần và đồng đội đang chăm chú nghiên cứu hình ảnh trên ra-đa cảnh báo sớm P-12 do Liên Xô sản xuất thì một hàng đốm sáng xuất hiện, dịch chuyển về phía Bắc, ngược dòng Mê Kông, đoạn giao giữa Thái Lan và Lào. Các đốm sáng được bao quanh bởi nhiều lớp nhiễu dày đặc. Ông và đồng đội nhận định các đốm sáng này chính là hình ảnh của B-52, loại máy bay ném bom chiến lược lớn nhất của Mỹ có khả năng mang tới 30 tấn bom.

Hồ sơ mật: “Điện Biên Phủ trên không” qua lời kể người trong cuộc

Lực lượng tên lửa phòng không đã hoạt động hiệu quả trong chiến dịch "Điện Biên Phủ trên không". Ảnh: Smithsonianmag.com

Chưa bao giờ các thành viên Đại đội ra-đa 45 thấy B-52 xuất hiện nhiều đến vậy. Đại đội trưởng Đinh Hữu Thuần cũng chợt nhận ra rằng B-52 đang đi theo đường bay mà nhiều máy bay cường kích của Mỹ đã sử dụng khi tấn công Hà Nội trước đó. 19 giờ 15 phút (giờ Hà Nội), ông điện về sở chỉ huy trung đoàn: “Rất nhiều B-52 đã vượt qua Điểm 300. Dường như chúng đang bay hướng về Hà Nội”. Trung đoàn nhanh chóng chuyển tin về Sở chỉ huy Phòng không - Không quân tại Hà Nội. Trận chiến cuối cùng của Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam sắp bắt đầu.

Sư đoàn Phòng không 361 phụ trách khu vực Hà Nội được trang bị nhiều ra-đa và hệ thống súng, pháo phòng không. “Trái tim” của sư đoàn là 3 trung đoàn tên lửa SA-2 (SAM 2): Trung đoàn 261 bảo vệ khu vực phía Bắc và phía Đông thành phố và Trung đoàn 257 và 274 bảo vệ phía Nam và phía Tây. Mỗi trung đoàn đều được trang bị ra-đa cảnh báo sớm và có 3 tiểu đoàn tên lửa SA-2. Mỗi tiểu đoàn được trang bị ra-đa cảnh báo sớm riêng, 1 ra-đa dẫn bắn và 6 bệ phóng tên lửa SA-2.

Các kíp tên lửa ở Hà Nội đều rất giàu kinh nghiệm và luyện tập phòng thủ trước các cuộc không kích của Mỹ nhiều năm trước đó nên đặc biệt nóng lòng muốn bắn hạ B-52. Chiến thuật của B-52 và các quy trình gây nhiễu khi máy bay tấn công các mục tiêu ở Lào và sườn Nam miền Bắc Việt Nam cũng đã được các chuyên gia Việt Nam nghiên cứu kỹ. Thậm chí một cuốn sách có tựa đề “Cách đánh B-52” cũng đã được in và phân phát cho tất cả các đơn vị tên lửa SAM.

Tiểu đoàn SAM đầu tiên đón đợt tập kích đường không của Mỹ là Tiểu đoàn 57, Trung đoàn 261, dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Phiệt. Chưa bao giờ lực lượng phòng không thấy nhiễu dày đặc như vậy. Tất cả tín hiệu ra-đa đều biến mất trong màn sương mù trắng sáng của nhiễu. Màn hình hiển thị nhiều sọc màu xanh đậm đan xen, thay đổi với tốc độ bất thường rồi sau đó, hàng trăm, hàng nghìn vệt sáng hiện thành các chấm lốm đốm trên màn hình, di chuyển chậm chạp. Thật khó để có thể phân biệt đâu là nhiễu của B-52, EB-66 hay F-4.

Tuy nhiên, bằng kinh nghiệm của mình, các trắc thủ Việt Nam đã “vạch nhiễu”, tìm được đúng B-52. Về lý thuyết, nếu sử dụng sóng Fan Song (SNR-75) thì nguy cơ trận địa ra-đa bị phát hiện và bị tấn công là rất cao. Nhưng không còn cách nào khác, nhiễu quá dày đặc. Theo lệnh Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Chấn, Tiểu đoàn 78 bật ra-đa Fan Song ở công suất cao nhất. Ngay sau đó, sĩ quan kiểm soát hỏa lực đã có thể xuyên qua lớp nhiễu B-52 và phát hiện mục tiêu. Lệnh khai hỏa được đưa ra lúc 19 giờ 49 phút. Hai quả tên lửa sáng rực vọt đi về phía mục tiêu. Trong khi đó, cách Hà Nội vài cây số về phía Bắc, Tiểu đoàn 59 nhận thông tin từ sở chỉ huy Trung đoàn 261 chỉ thị mục tiêu T671 ở độ cao 10.000 mét. Tiểu đoàn ra lệnh khai hỏa. Ngay lập tức, “đám nhiễu” trên ra-đa mất dần độ cao. Chỉ vài phút sau, sở chỉ huy Phòng không - Không quân nhận tin báo một chiếc B-52 rơi ở ngoại ô Hà Nội.

Hồ sơ mật: “Điện Biên Phủ trên không” qua lời kể người trong cuộc

Xác "pháo đài bay" B-52 ở Hồ Hữu Tiệp, Hà Nội, Việt Nam. Ảnh: Smithsonianmag.com

Trong bài viết của mình đăng trên Tạp chí Không quân và Vũ trụ, tác giả David Freed, trích lời của Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Phiệt nhận định rằng ban đầu ông và đồng đội đều lo ngại vì Mỹ nói rằng B-52 là “pháo đài bay” bất khả chiến bại. Nhưng sau đêm đầu tiên thì ông biết B-52 có thể bị tiêu diệt giống như bất kỳ loại máy bay nào khác. Mỹ muốn đưa Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá, nhưng đây là một sai lầm. Không ai có thể dùng bạo lực để tiêu diệt được ý chí của một dân tộc. Những đêm sau đó, đã có rất nhiều “pháo đài bay” của Không quân Mỹ tiếp tục bị bắn rơi trên bầu trời miền Bắc. Ngoài B-52, nhiều chiến đấu cơ khác của Mỹ cũng bị bắn hạ.

Về cuộc tập kích chiến lược đường không 12 ngày đêm của Mỹ cuối tháng 12-1972, tác giả Marshall Michel nhận xét, Điện Biên Phủ trên không là một chiến thắng nữa trong chuỗi chiến thắng nối tiếp chiến thắng của cuộc chiến tranh giành độc lập kéo dài 30 năm của Việt Nam, góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất hoàn toàn đất nước vào mùa Xuân năm 1975.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn