Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Điện Biên Phủ trên không

Tháng 12 năm 1972, Tổng thống Nixơn đã huy động lực lượng không quân mạnh nhất của Mỹ - máy bay B52 - mở cuộc tập kích chiến lược chưa từng có, nhằm tàn phá Thủ đô Hà Nội và thành phố Cảng Hải Phòng, tàn sát quân và dân ta với quy mô lớn. Với hành động bạo ngược ấy, Nixơn muốn buộc Việt Nam phải đầu hàng, phải chấp nhận những điều sửa đổi có lợi cho Mỹ trong hiệp định đã được thỏa thuận. Một sự bất ngờ mà Mỹ không hề lường đã diễn ra. Lực lượng phòng không và không quân

Lai Châu03/07/2026Lưu Trọng Lân (xã sìn hồ)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
LỜI GIỚI THIỆU
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược của dân tộc ta đã giành được thắng lợi hoàn toàn, kết thúc bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân năm 1975. Để đi đến thắng lợi cuối cùng, dân tộc ta đã phải trải qua biết bao khó khăn, gian khổ, mất mát và hy sinh, đồng thời cũng đã lập nên biết bao chiến công hiển hách. "Điện Biên Phủ trên không" là một trong những chiến công như thế.

Vào tháng 10 năm 1972 lẽ ra giữa ta và Mỹ đã đi tới một hiệp định chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam như đã thỏa thuận, nhưng phía Mỹ đã bội ước, đưa máy bay chiến lược B52 đến ném bom Hà Nội, Hải Phòng.

Mưu đồ của Tổng thống Ních-xơn và tập đoàn hiếu chiến Mỹ là dùng sức mạnh của B52, con chủ bài cuối cùng, để ép ta trên bàn đàm phán, hòng buộc ta phải chấp nhận những điều kiện áp đặt của họ.

Nhưng, cuộc tập kích chiến lược ồ ạt và tàn bạo bằng B52 của Mỹ đã thất bại nhục nhã. Trên 80 máy bay Mỹ bị bắn rơi, trong đó có hơn 30 chiếc là B52, cùng nhiều phi công Mỹ bị bắt. Bị tổn thất quá nhiều về máy bay chiến lược, không ép được ta bằng thế mạnh, lại bị nhân dân trong nước Mỹ và trên thế giới phản đối kịch liệt, Ních-xơn đã phải ra lệnh chấm dứt không điều kiện cuộc tập kích, phải chịu thua trên bầu trời Hà Nội, để rồi sau đó buộc phải chấp nhận thêm cuộc thua trên bàn đàm phán ở Pa-ri.

Hiệp định Pa-ri đã được ký vào ngày 27 tháng 1 năm 1973, Mỹ cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, cam kết sẽ không dính líu về quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam, cam kết rút hết quân Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ về nước...

"Mỹ cút" tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho nhân dân ta tiến lên đánh cho "ngụy nhào". Miền Nam nước ta được hoàn toàn giải phóng, đất nước ta hoàn toàn độc lập, thống nhất, kết thúc trọn vẹn sự nghiệp giải phóng dân tộc do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo.

Đã 30 năm kể từ ngày quân dân ta đánh thắng cuộc tập kích chiến lược bằng B52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng, nhưng vẫn còn nhiều người trong nước và trên thế giới chưa hiểu tại sao nhân dân Việt Nam thắng được không quân chiến lược Mỹ. Nhiều bạn trẻ trong những dịp "về nguồn" đã nêu khá nhiều câu hỏi xoay quanh sự kiện đánh thắng B52.

Đồng chí Lưu Trọng Lân, nguyên là Phó trưởng phòng Tác huấn, Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không - Không quân đã dày công nghiên cứu, sưu tầm và trên cơ sở những tư liệu xác thực, khá phong phú, đã đưa ra những lời giải đáp sáng sủa trong cuốn sách mang tên: "Điện Biên Phủ trên không" - chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam, góp phần giúp bạn đọc hiểu thêm về lý do tại sao quân dân ta đánh thắng được cuộc tập kích chiến lược bằng B52 của Mỹ tháng 12 năm 1972.

Tập sách bổ sung khá nhiều nội dung bổ ích cho những bài đã viết và cho những quyển sách đã xuất bản về chiến thắng của trận đánh đất đối không lịch sử này. Với cách trình bày theo lối vấn đáp, tác giả Lưu Trọng Lân đã tập trung bám sát vào những vấn đề mà người đọc trong và ngoài quân dội quan tâm, do đó tập sách khá sinh động và hấp dẫn.

Tôi thực sự đã bị nội dung của tập sách cuốn hút một mạch từ đầu chí cuối.

Mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng sưu tầm, biên soạn, nhưng tập sách chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Mong được bạn đọc góp ý, bổ sung để tập sách đầy đủ hơn khi tái bản.

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2001.
Thiếu tướng, Giáo sư ĐOÀN HUYÊN
Nguyên Phó tư lệnh
Quân chủng Phòng không - Không quân
kiêm Tư lệnh Binh chủng Tên lửa.

« Sửa lần cuối: 09 Tháng Hai, 2021, 10:34:03 am gửi bởi ptlinh »

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam« Trả lời #1 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2016, 04:03:24 pm »

LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm qua, tôi may mắn được nhiều lần đến các cơ quan, đơn vị, các xí nghiệp, nhà trường, giao lưu và nói chuyện về lịch sử, truyền thống cách mạng, truyền thống quân đội với thế hệ trẻ thành phố Hồ Chí Minh, cả trong và ngoài quân đội, nhân những ngày lễ lớn của dân tộc.

Qua những lần tiếp xúc ấy, tôi cảm nhận các bạn trẻ nắm khá tốt những vấn đề cơ bản có liên quan đến các sự kiện lịch sử, như chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, chiến thắng Tết Mậu Thân năm 1968, chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không" năm 1972, đại thắng mùa Xuân năm 1975. Tuy nhiên, bên cạnh đó, tôi cũng lắng nghe được nhiều ý kiến thắc mắc khá lý thú, những lời đề nghị chân thành mong được giải thích sâu hơn về các sự kiện. Để đáp ứng yêu cầu đó, tôi dự định viết vài cuốn sách với hy vọng trả lời những thắc mắc nói trên của cácbạn trẻ.

Ở đây tôi chỉ xin đề cập đến "Chiến dịch phòng không 12 ngày đêm" (Chú thích: Thực tế diễn ra: 11 ngày, 12 đêm, nhưng nếu tính cả ngày 18 tháng 12 là thời điểm cả ta và địch đều chuẩn bị, thì phải kể là 12 ngày, 12 đêm. Thí dụ ở căn cứ Guam, địch đã chuẩn bị máy bay, bom đạn từ sáng sớm, 12 giờ trưa B52 đã bắt đầu cất cánh.) của quân dân ta đánh thắng cuộc tập kích chiến lược đường không bằng B52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng tháng 12 năm 1972, chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không".

Với hàng loạt câu hỏi được đặt ra, rải rác, nhiều khía cạnh, tôi đã hệ thống lại và cố gắng đi sâu nghiên cứu để tìm ra lời giải đáp. Có thể chưa thỏa mãn được yêu cầu và chắc chắn còn nhiều thiếu sót, nhưng qua cuốn sách này tôi xin mạnh dạn cung cấp đến bạn đọc, nhất là các bạn trẻ, những điều lý giải về hai vấn đề quan trọng sau đây:

1. Nguyên nhân vì sao quân dân ta đánh thắng được không quân chiến lược B52 của Mỹ.

2. Ý nghĩa lớn lao của chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không" đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta và ý nghĩa quốc tế của nó.

Đây là hai vấn đề lớn và khá phức tạp. Để giúp bạn đọc dễ hình dung, tôi xin lần lượt trình bày những điều cần giải đáp dưới dạng câu hỏi và trả lời.

Xin chân thành cảm ơn các cơ quan, các tướng lĩnh, bè bạn đã giúp tôi nhiều ý kiến bổ sung quý báu, cung cấp cho tôi nhiều tư liệu cần thiết phục vụ cho việc biên soạn tập sách này.

Rất mong quý bạn đọc cho lời nhận xét và góp ý thêm.

TÁC GIẢ

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam« Trả lời #2 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2016, 04:11:55 pm »

VÌ SAO TỔNG THỐNG MỸ NÍCH-XƠN ĐƯA
KHÔNG QUÂN CHIẾN LƯỢC B52 NÉM BOM
HÀ NỘI, HẢI PHÒNG CUỐI THÁNG 12 NĂM 1972

Câu hỏi 1: Nghe nói từ tháng 10 năm 1972 giữa Việt Nam và Mỹ đã có một bản thỏa thuận ngừng bắn. Tại sao sau đó Mỹ lại đưa B52 ném bom Hà Nội?

Đáp: Từ đầu tháng 3 năm 1972, theo lệnh của Tổng thống Ních-xơn, tác giả của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", Không quân và Hải quân Mỹ đã sử dụng hỏa lực tối đa (pháo binh và máy bay) để hỗ trợ cho quân đội Sài Gòn trên mọi mặt trận ở miền Nam nước ta.

Sang tháng 4, với kế hoạch mang tên "Cuộc hành binh Lai-nơ-bếch-cơ I, Mỹ lại tiến thêm một bước, đưa B52 đến ném bom Vinh, Thanh Hóa, Hải Phòng và mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai ra toàn miền Bắc, với mức độ hết sức khốc liệt. Trong nhiều tháng trời cuộc hội đàm ở Pa-ri lâm vào bế tắc.

Để mở lối thoát cho cuộc đàm phán, trong cuộc họp kín ngày 8 tháng 10 ở biệt thự Lê-giê (Chú thích: Biệt thự Lê-giê của họa sĩ Fernand Léger tặng Đảng Cộng sản Pháp. Đảng Cộng sàn Pháp cho phái đoàn ta mượn làm nơi họp riêng với phía Mỹ.), phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã chủ động đưa ra một bản dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam" (Chú thích: Nội dung bản dự thảo đã được Bộ Chính trị thông qua, trước khi Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ sang Pa-ri.). Sau hơn bốn ngày thương lượng, phía Mỹ đã chấp thuận những nội dung chính trong văn bản dự thảo do phía ta đưa ra và lấy đó làm cơ sở cho việc đàm phán giữa đôi bên, đồng thời thỏa thuận với ta một thời gian biểu cho việc ký kết và đi tới chấm dứt chiến tranh. Những thỏa thuận đó là:

- Ngày 18 tháng 10 năm 1972: Mỹ chấm dứt ném bom trên bộ và ngừng rải mìn phong tỏa các cảng của miền Bắc Việt Nam.

- Ngày 20 tháng 10: lễ ký tắt giữa cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Kít-xinh-giơ (Kissinger) được tiến hành ở Hà Nội.

- Ngày 26 tháng 10: lễ ký kết hiệp định chính thức giữa bốn bên tham chiến (Chú thích: Bốn bên là: Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Chính phủ Hoa Kỳ và Chính phủ Việt Nam cộng hòa.) tại Pa-ri.

- Ngày 27 tháng 10: ngừng bắn trên toàn cõi Việt Nam, hòa bình ở Việt Nam được vãn hồi.

Nhưng rồi phía Mỹ lại yêu cầu ta cho lùi thời gian biểu (21 tháng 10 ngừng ném bom, thả mìn; 24 tháng 10 ký tắt; 30 tháng 10 ký chính thức; 31 tháng 10 chấm dứt chiến tranh). Với thiện chí, phái đoàn ta chấp thuận lời đề nghị đó của Mỹ.

Một tuần lễ sau, vào ngày 20 tháng 10, Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhận được thư của Tổng thống Ních-xơn (Richard Nixon) khẳng định:

"Hiệp định coi như đã hoàn tất. Hãy tin vào chúng tôi là có thể ký kết được hiệp định như thời gian biểu đã thỏa thuận" (Chú thích: Hồi ký của Ních-xơn: The memoirs of Richard Nixon, Grosset Dunlop, NewYork, 1978).

Vậy mà sau đó, lúc bản hiệp định chỉ còn chờ chữ ký để trở thành hiện thực thì Nhà Trắng lại ngang ngược phản lại những điều đã giao ước.

Kít-xinh-giơ bỏ chuyến bay đến Hà Nội, thông báo trì hoãn ngày ký kết và ngày ngừng bắn, rồi đổ tại Nguyễn Văn Thiệu, tổng thống chính quyền Sài Gòn, không chịu ký.

Thực ra, chuyện Nguyễn Văn Thiệu ngúng nguẩy, làm mình lảm mẩy, phản ứng kịch liệt với quan thầy Ních-xơn là điều có thật. Tuy nhiên mọi người đều thừa hiểu rằng "cái đuôi" Thiệu, cũng như anh em Diệm -Nhu trước đây, làm sao có thể chống lại được "cái đầu” của ông chủ Mỹ (Chú thích: Có lần Ních-xơn nói với Kít-xinh-giơ: "Không thể để có cái đuôi chó phản lại cái đầu con chó được". Hen ri Kissinger, Những năm tháng ở Nhà Trắng, Nxb Fayard, Paris, 1979.).

Vừa để khỏi bị mang tiếng là bỏ rơi "đồng minh”, vừa để gây sức ép tối đa buộc phía ta phải chấp nhận những điều kiện của Mỹ, một âm mưu cực kỳ hiểm độc đã hình thành trong bộ óc hung bạo của Tổng thống Mỹ Ních-xơn: Đưa B52 ném bom Hà Nội, Hải Phòng, dùng sức mạnh hủy diệt của B52 làm áp lực để buộc Hà Nội phải quỳ gối. Đó là lý do của sự bội ước trắng trợn của Mỹ sau ngày 20 tháng 10 năm 1972, mà về sau chúng ta mới rõ thêm.

Ngày 23 tháng 10, không quân Mỹ ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20, bắc Thanh Hóa, trở ra. Đây lại là trò lừa bịp mới nhằm làm cho thiên hạ tưởng lầm rằng Mỹ thiện chí. Thực chất của việc Mỹ không đánh phá phía bắc vĩ tuyến 20 nữa là để dồn lực lượng máy bay, bom đạn, khống chế quyết liệt tuyến giao thông vận chuyển của ta trên vùng "cán xoong", một địa bàn nhỏ hẹp, thắt lại giữa bản đồ đất nước, từ Nghệ An đến Vĩnh Linh. Mặt khác là để thu hút, lôi kéo lực lượng phòng thủ của ta từ Hà Nội vào Quân khu 4.

Không thể đợi chờ và nín nhịn được nữa trước sự bội ước và thủ đoạn tráo trở của Hoa Kỳ, ngày 26 tháng 10 Chính phủ ta ra tuyên bố công khai lên án sự quay quắt lật lọng của Nhà Trắng. Người phát ngôn của Chính phủ ta, trước đông đảo các nhà báo quốc tế ở Pa-ri đã lên tiếng tố cáo: "Hòa bình đã ở đầu ngọn bút", nhưng chính phủ Mỹ đã trở mặt, phản lại những điều đã thỏa thuận. Dư luận Mỹ và thế giới xôn xao.

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam« Trả lời #3 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2016, 04:16:17 pm »
Bị ta vạch mặt, Kít-xinh-giơ buộc phải tổ chức họp báo. Vốn là một kẻ gian ngoan, để che giấu âm mưu đen tối một mặt Kít thừa nhận nội dung của phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra là đúng, mặt khác ông ta lại ỡm ờ thanh minh và lập lờ tuyên bố: "Thưa quý bà, quý ông! Sau mười năm diễn biến, cuộc chiến tranh đã đến hồi kết thúc. Chúng ta tin rằng Hòa bình đang ở trong tầm tay".

Thủ đoạn xảo trá của Kít-xinh-giơ, thông qua màn khói "Hòa bình trong tầm tay" vậy mà đánh lừa và trấn an được dư luận Mỹ. Một cú lừa thật ngoạn mục. Niềm hi vọng của nhân dân Mỹ lại được hâm nóng: Chiến tranh ở Việt Nam sắp chấm dứt. Con em họ sắp được trở về. Kết quả là những lá phiếu tín nhiệm của cử tri lại dành cho Ních-xơn (Chú thích: Bằng thủ thuật nói trên, Ních-xơn đã thắng đối thủ Mắc Ga-vơn với 61% số phiếu. Mắc Ga-vơn đã gọi: "Ních-xơn là tên gian dối! Ních-xơn là tên lừa bịp".).

Sau khi mọi việc được trót lọt, phần thắng trong cuộc bầu cử đã nắm chắc trong tay, trong khi chuẩn bị tiến hành một cuộc ném bom xuống thủ đô Hà Nội, Ních-xơn cho Kít-xinh-giơ bay sang Pa-ri họp tiếp với nhiệm vụ trì hoãn và gây bế tắc hội nghị.

Dặn dò trực tiếp chưa đủ, khi Kít-xinh-giơ đã đến thủ đô nước Pháp, Ních-xơn còn bảo Chánh văn phòng Hen-đơ-men (H.R.Handerman) gọi điện mật nhắc nhở thêm: "Cần tránh những điều gì tỏ ra là chúng ta phá vỡ thương lượng. Nếu xảy ra tan vỡ thì phải là do phía Hà Nội gây ra. Trong bất cứ trường hợp nào phía chúng ta cũng không được tỏ ra là bên có sáng kiến chấm dứt thương lượng" (Chú thích: Theo Hồi ký của Ních Xơn)

Những ngày của tháng 11 năm 1972 ở thủ đô nước Pháp, Kít-xinh-giơ đã gây ra lắm điều rắc rối cho hội nghị và liên tiếp giở trò "gắp lửa bỏ tay người". Ông ta đòi sửa 69 điều trong những điều mà hai bên đã thỏa thuận hồi tháng 10, lại đòi miền Bắc cùng rút quân, đòi miền Nam phải là một quốc gia riêng. Phía ta không nghe thì Kít đổ tội cho ta là thiếu thiện chí, là cản trở cuộc hội đàm tiến triển.

Trong cuộc họp ngày 24 tháng 11, Kít-xinh-giơ hăm dọa: nếu các ông không tỏ ra biết điều, Tổng thống chúng tôi buộc sẽ ra lệnh ngừng đàm phán và tiếp tục các hành động quân sự mà hậu quả sẽ khó lường”.

Ngày 6 tháng 12, Kít-xinh-giơ lại dọa dẫm: nếu cuộc thương lượng bị tan vỡ thì chiến tranh sẽ tiếp diễn với cường độ mạnh hơn. Đến lúc đó cuộc chiến tranh sẽ thay đổi tính chất, cuộc thương lượng cũng sẽ thay đổi tính chất. Mỹ sẽ không bàn bạc về hiệp định này nữa (Chú thích: Theo sách: "Cuộc đàm phán Pa-ri về Việt Nam” - Nguyễn Thành Lê -Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội – 1999).

Ngày 7 tháng 12, Ních-xơn gửi điện mật báo cho Kít-xinh-giơ: "Chúng ta sẽ ném bom dữ dội Bắc Việt, nhưng sẽ không thông báo cho công chúng biết trước", và chỉ thị Kít-xinh-giơ vẫn phải tỏ ra mềm dẻo, tiếp tục "giữ cầu" đàm phán thêm một thời gian nữa. Thật là quỷ quyệt hết chỗ nói.

Để có thể đi đến ký kết hiệp định hòa bình, trong những ngày này, phía ta đã có nhiều nhân nhượng, nhưng cũng có những điều không thể nào nhân nhượng nổi. Cuối cùng đến ngày 13 tháng 12, cuộc đàm phán hoàn toàn bế tắc, phải dừng lại.

Cố vấn Lê Đức Thọ nhìn thẳng vào mặt Kít-xinh-giơ cảnh báo: "Các ông gieo gió ắt phải gặp bão". Hôm đó Cố vấn Lê Đức Thọ lên máy bay về Hà Nội, còn ông Kít-xinh-giơ bay về Oa-sinh-tơn.

Trước khi rời Pa-ri, trước các nhà báo ở sân bay Oóc li (Orly), Kít-xinh-giơ lớn tiếng tố cáo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phá vỡ thương lượng (!?).

Ngày 14 tháng 12, giống như một ung nhọt bị vỡ, dã tâm đen tối và thầm kín bấy lâu của Ních-xơn mở bung ra. Ông ta chính thức ra lệnh: "Hải quân tiếp tục rải thủy lôi phong tỏa các cảng và các cửa sông Bắc Việt. Không quân bắt đầu cuộc tiến công bằng B52 vào Hà Nội, Hải Phòng".

Y lệnh tổng thống, theo một kế hoạch chiến dịch được Lầu Năm Góc chuẩn bị hết sức chu đáo, tỉ mỉ từ trước (Chú thích: Kế hoạch tuyệt mật này được thông qua ngày 30-11-1972, với sự tham gia bàn bạc của tổng thống Ních-xơn, cố vấn Kít-xinh-giơ, Bộ trưởng Quốc phòng Le-dơ (Laird), Thứ trưởng Quốc phòng Hây-gơ (Hang) và Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân (Mo-rơ) Moorer.), các tàu chiến Mỹ tiến hành việc thả thủy lôi, còn các phi công chiến lược ở Gu-am và U-ta-pao thì chuẩn bị sẵn sàng, để đến ngày 18 tháng 12 (theo giờ Hà Nội) lái những chiến oanh tạc cơ khổng lồ ầm ầm lao tới Thủ đô nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Chiều 18 tháng 12, chiếc máy bay chở Cố vấn Lê Đức Thọ hạ cánh xuống sân bay Gia Lâm. Chỉ mấy giờ sau, những loạt bom đầu tiên của B52 Mỹ đã dội xuống Hà Nội.

Màn kịch "hòa bình trong tầm tay" của mưu sĩ Kít-xinh-giơ có thể lừa bịp được ai đó, nhưng với nhân dân Việt Nam, một dân tộc dạn dày chống giặc ngoại xâm và vốn có tinh thần cảnh giác truyền thống thì không dễ bị đánh lừa. Quân dân Hà Nội, Hải Phòng, nhờ vậy đã bước vào cuộc chiến đấu một cách hoàn toàn chủ động và đã giáng cho không quân chiến lược Mỹ đòn thất bại nặng nề nhất.

Tờ Bưu điện Oa-sinh-tơn (Washington Post), dưới dòng tít lớn "Đợt ném bom khủng bố nhân danh hòa bình" viết: "Thất bại này buộc Tổng thống Ních-xơn và cố vấn của ông ta phải chấp nhận trở lại những điều khoản mà cách đây ba tháng họ đã bác bỏ".

Lẽ ra nếu Ních-xơn không tráo trở lật lọng, không phá vỡ những "thỏa thuận tháng 10", không ra lệnh tiến công Hà Nội, Hải Phòng bằng B52 thì ông ta có thể thua trong danh dự. Làm ngược lại, ông đã bị thua trong bi thảm tột cùng.

Đó là hệ quả tất yếu của một âm mưu bẩn thỉu hiếm có trong lịch sử.

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: Điện Biên Phủ trên không-Chiến thắng của ý chí và trí tuệ Việt Nam« Trả lời #4 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2016, 04:23:11 pm »

SỰ CHÊNH LỆCH LỰC LƯỢNG TO LỚN GIỮA VIỆT NAM VÀ MỸ
TRONG CUỘC ĐỐI ĐẦU QUYẾT LIỆT TRÊN VÙNG TRỜI HÀ NỘI, HẢI PHÒNG
CUỐI THÁNG 12 NĂM 1972

Câu hỏi 2: Để tiếng hành cuộc tập kích chiến lược đường không đánh vào Hà Nội, Hải Phòng cuối tháng 12 năm 1972, Mỹ đã sử dụng sức mạnh tối đa. Vậy so sánh lực lượng giữa ta và Mỹ lúc đó như thế nào ?

Đáp: Đây là một sự chênh lệch lực lượng hết sức to lớn, khó tưởng tượng nổi. Cán cân sức mạnh vật chất, kỹ thuật nghiêng hẳn về phía Mỹ. Cụ thể là:

A. Lực lượng quân sự được Nhà Trắng và Lầu Năm Góc (Chú thích: Nhà Trắng (The White House): trụ sở nhà cầm quyền Mỹ. Lầu Năm Góc (The Pentagon ): trụ sở Bộ Quốc phòng Mỹ) huy động vào chiến dịch tập kích, mà họ gọi là cuộc hành binh Lai-nơ-bếch-cơ II (Linebacker II) (Chú thích: Linebacker: được dịch là "Tiền vệ" hoặc "Người cứu bóng trước khung thành". Chiến dịch Linebacker I: từ 6-4-1972 đến 22-10-1972. Chiến dịch Linebacker II: từ 18-12-1972 đến 29-12-1972.), gồm có:

- Gần một nửa số máy bay chiến lược B52 của toàn nước Mỹ (193 trên tổng số 400 chiếc). Thực tế xuất kích: 663 lần chiếc.

- Gần một phần ba số máy bay chiến thuật của toàn nước Mỹ (1.077 trên tổng số 3.041 chiếc). Thực tế xuất kích: 3.920 lần chiếc.

- Một phần tư số tàu sân bay của toàn nước Mỹ (6 trên tổng số 24 chiếc), cùng nhiều tàu chỉ huy - dẫn dường, tàu khu trục, tàu tên lửa, tàu ra-da, tàu bảo vệ, tàu cấp cứu tàu sửa chữa. . . của Hạm đội 7 ở Thái Bình Dương.

Đó là chưa kể 50 máy bay tiếp dầu trên không và một số lượng lớn những máy bay phục vụ khác như: máy bay gây nhiễu điện tử từ xa, máy bay trinh sát có người lái không người lái, tầng thấp, tầng cao, máy bay chỉ huy, dẫn đường, liên lạc, cấp cứu...

Chỉ tính riêng không quân chiến thuật đã bằng tổng lực lượng của hai nước mạnh nhất châu Âu hồi đó gộp lại (Anh Quốc: 600 chiếc, Tây Đức: 500 chiếc).

Số máy bay chiến lược, chiến thuật được Mỹ đưa vào cuộc tập kích lần này đều là những thứ vũ khí vào loại hiện đại bậc nhất thời ấy, phần lớn được cải tiến hoàn hảo hơn nhiều so với thời kỳ chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (1965-1968), gồm các loại:

- Máy bay chiến lược: B52 D, B52 G.

- Máy bay chiến thuật: F111a, F4 D-E-J (thay F4C, F8), F105G (thay F105F), A4E, A6A, A7 (thay A4).

- Máy bay gây nhiễu điện tử từ xa: EA6A, EB66 B-C D-E, EC121

- Máy bay tiếp dầu trên không: KC 135

- Máy bay trinh sát có người lái tầng thấp: RF4C, RA.5C.

- Máy bay trinh sát không người lái tầng thấp: 147 SB-SC-SK, 147 SRE (trinh sát đêm).

- Máy bay trinh sát có người lái tầng cao: SR71 (Chú thích: SR71: bay cao 30 ki-lô-mét, bay nhanh hơn 3 lần tốc độ âm thanh.)

- Máy bay trinh sát không người lái tầng cao: BQM34A

- Tên lửa không đối đất: ngoài loại Sơ-rai (Shrike AGM45) còn thêm loại Xtenđơ (Standard AGM78), hiện đại hơn, tầm phóng xa hơn.

- Tên lửa nhử mồi Gờ-rin Quây (Green Quail): phóng từ đuôi B52, để thu hút tên lửa tìm nhiệt K13 của MIG21.

- Thiết bị gây nhiễu điện tử: được cải tiến với công suất lớn hơn, cường độ mạnh hơn, tính chất phức tạp hơn, như ALQ87, ALQ100, ALQ101, ALE29, ALR18, QLT13, ALQ76.

- Hệ thống điều khiển bom la de: ngoài loại ZOT, còn thêm loại mới KNAI hiện đại hơn.

Căn cứ xuất phát của các loại máy bay Mỹ:

Máy bay chiến lược B52 cất cánh từ căn cứ En-đơ-xơn (Anderson) trên đảo Gu-am giữa Thái Bình Dương và căn cứ U-ta-pao ở Thái Lan.

Máy bay chiến thuật các loại cất cánh từ 6 sân bay ở Thái Lan (U-đon, U-bon, Tắc-li, Cò-rạt, Na-khon Pha-nol, Nậm Phong) và từ 6 tàu sân bay (Enterprise, America, Ranger, Kitty Hawk, Oriskany, Saratoga) đậu rải rác trên một khu vực rộng gọi là trạm Yân-ki (Station Yankee) ở Biển Đông, từ đông Thanh Hóa đến đông Đà Nẵng (Chú thích: các sân bay ở miền Nam Việt Nam không trực tiếp tham gia kế hoạch Linebacker II).

Ngoài ra, tất cả các căn cứ hậu cần, kỹ thuật của quân đội Mỹ ở Đông Nam Á như căn cứ Cờ-lác (Clark), Su bích (Subic) ở Phi-lip-pin, cộng thêm căn cứ Ô-ki-na-oa ở Nhật Bản đều được sử dụng để phục vụ tối đa cho trận đại oanh kích này.

Tóm lại, đây là một cuộc huy động lực lượng to lớn chưa từng có của đế quốc Mỹ từ sau đại chiến thế giới lần thứ hai, tính đến lúc ấy, cho một trận tập kích chiến lược đường không.

Để chỉ huy chung hai căn cứ En-đơ-xơn và U-ta-pao, Lầu Năm Góc đã cấp tốc thành lập một bộ chỉ huy lâm thời, do tướng Vốt (John Vogt) làm tư lệnh, đóng ở U ta-pao. Bộ chỉ huy này đặt dưới quyền của Bộ chỉ huy Không quân chiến lược và Bộ Quốc phòng Mỹ. Cả một guồng máy chiến tranh khổng lồ, nằm trong tay Tổng thống Ních-xơn, người duyệt kế hoạch và là tổng tư lệnh tối cao.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn