Bài viết

Điện Biên Phủ trong trái tim người lính

Tuyên Quang03/08/2026Phường Nông Tiến (Đoàn phường Nông Tiến)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Điện Biên Phủ trong trái tim người lính
image.png

Dân tộc Việt Nam luôn tự hào về một lịch sử hào hùng, là bản sử thi của lòng kiên cường, bất khuất, mà đỉnh cao chói lọi chính là chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu". Chiến công vĩ đại này không chỉ là dấu mốc lịch sử, mà còn là sự kết tinh từ hàng triệu trái tim đã dâng hiến. Nghiên cứu này xin được đi sâu, lắng nghe và ghi chép lại những ký ức cá nhân đầy xúc động của các Cựu chiến binh, Thương binh, Bệnh binh đã trực tiếp tham gia chiến dịch lịch sử ấy và các trận đánh trong suốt hai cuộc Kháng chiến.

Mỗi Cựu chiến binh, Thương binh, Bệnh binh đều mang trong mình một câu chuyện riêng về lý do họ đặt bút viết đơn tình nguyện hoặc xung phong lên đường. Dù xuất thân từ làng quê nghèo khó hay phố thị, dù là người nông dân, công nhân, hay trí thức trẻ, tất cả đều có chung một ngọn lửa: lòng yêu nước và quyết tâm bảo vệ nền độc lập vừa giành được.

Chính những câu chuyện về sự hy sinh thầm lặng, tình đồng đội thiêng liêng và nghị lực vươn lên sau chiến tranh mới chính là di sản tinh thần vô giá, là bài học sống động nhất mà chúng ta cần trân trọng và truyền lại.

Hà Kim Đương- một con người của mảnh đất Chiêm Hóa, Tuyên Quang, ông là chiến sỹ Điện Biên ở thôn Làng Lạc, xã Xuân Quang. 70 năm kể từ chiến thắng Điện Biên Phủ người lính ấy nay đã 91 tuổi nhưng những kí ức về chiến trường Tây Bắc năm xưa vẫn còn nguyên vẹn trong tâm trí “ quê hương thứ hai của tôi là Điện Biên”.

Nhập ngũ tháng 8-1949 tại đơn vị E148; F316, chàng trai trẻ Hà Kim Đương hăng hái hành quân lên Tây Bắc, ông rời xa Chiêm Hóa, xa nơi ông đã sinh ra và lớn lên để thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng của người con đất Việt. Thanh niên khi ấy nghe “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Bác Hồ đều bùng lên khí thế, tôi đã chờ 3 năm để đủ 16 tuổi, ngay lập tức xin gia đình cho đi tòng quân, đánh giặc, với tôi cũng như những thanh niên ngày ấy, được vào quân ngũ là vinh dự và chúng tôi tin rằng khi thắng giặc Pháp, hòa bình lập lại, cuộc sống sẽ ngày một tươi đẹp hơn”.

Ông coi việc tham gia kháng chiến là một điều vinh dự và tự hào bởi tuổi trẻ là  không sợ hãi, phải can đảm, chiến đấu vì sứ mệnh của đất nước vì một tươi lai tươi sáng đang đợi những anh hùng như ông chiến đấu để khai sáng.

( Nguồn ảnh: cổng thông tin điện tử phường Minh Xuân, Tuyên Quang)

Trước cảnh đất nước gặp nạn, Hà Kim Đương cũng đại diện cho bao người lính xung phong khác, họ rất dũng cảm, anh dũng, dù tuổi còn trẻ nhưng ý chí, nghị lực và hành động của đều đều khẳng định rằng họ là những người anh hùng, luôn hướng đến tổ quốc, khi tổ quốc cần thì họ sẵn sàng lên đường để góp sức vào làm nên chiến thắng vẻ vang trên chiến trường khốc liệt.

Hành trình của người lính Kháng chiến chống Pháp là chuỗi ngày đối diện trực tiếp với lửa đạn và cái chết. Phần này đi sâu vào những ký ức không thể nào quên về chiến đấu và tình người nơi chiến trường.

Ông đến Điện Biên khi trời đã chớm đông, đất trời Tây Bắc khi ấy dù chiến trường khốc liệt nhưng vẫn đẹp đến lạ kỳ, nắng vàng ươm trải dài trên từng triền đồi như bất tận, nhưng ông Đương bảo, sau vẻ đẹp choáng ngợp ấy là một chiến trường thảm khốc với bao mồ hôi, máu và nước mắt.

Ông còn nhớ như in chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử được chia làm ba đợt tấn công, trong đó đợt tấn công thứ hai và thứ ba diễn ra nhiều trận đánh rất ác liệt. Đợt thứ 3 từ ngày 1-5 đến ngày 7-5-1954, quân ta đánh chiếm các cứ điểm phía Đông và mở đợt tổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Tại đồi A1, quân ta và quân Pháp giành nhau từng tấc đất. Đêm ngày 6-5-1954, tại đồi A1 trận chiến đấu giữa ta và địch diễn ra quyết liệt, quân ta ào ạt xông lên tiêu diệt các lô cốt và dùng thuốc nổ phá các hầm ngầm kiên cố của địch. Tên quan Tư chỉ huy đồi A1 và khoảng 400 tên địch còn sống sót đã phải đầu hàng. 17 giờ 30 phút ngày 7-5-1954, ta chiếm sở chỉ huy của địch, tướng Đờ Cát cùng toàn bộ Bộ Tham mưu và binh lính tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ phải ra hàng. Lá cờ “quyết chiến, quyết thắng” của quân đội ta tung bay trên nóc hầm chỉ huy của địch. Ngay trong đêm đó quân ta tiếp tục tiến công phân khu Nam, đánh địch tháo chạy về Thượng Lào, đến 24 giờ toàn bộ quân địch đã bị bắt làm tù binh.

Trong chiến dịch hào hùng ấy, chiến sỹ trẻ Hà Kim Đương khi ấy mới tròn 20 tuổi vinh dự được đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình cho chiến thắng, ông đảm nhiệm vai trò chiến sỹ thông tin, liên lạc. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Binh chủng thông tin liên lạc phát triển mạnh mẽ cả về tổ chức biên chế, và phương tiện kỹ thuật. Với cách tổ chức liên lạc hợp lý, sử dụng hiệu quả các loại hình phương tiện thông tin liên lạc, bằng cách tổ chức liên lạc vô tuyến điện theo mạng và vượt cấp, trong cuộc Tổng tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954, đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ, bộ đội thông tin liên lạc đã hoàn thành tốt nhiệm vụ tổ chức và bảo đảm thông tin liên lạc chỉ đạo, chỉ huy từ cấp chiến lược đến chiến dịch và chiến đấu. Ở bất cứ chiến trường nào trong cuộc tiến công chiến lược cũng đều nhận được sự chỉ đạo chặt chẽ của Bộ Chính trị, Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tư lệnh thông qua hệ thống thông tin liên lạc vô tuyến điện của quân đội do bộ đội thông tin liên lạc đảm nhiệm.

(Nguồn ảnh: cổng thông tin điện tử phường Minh Xuân, Tuyên quang)

Chiến sĩ Hà Kim Đương đại diện cho hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ thông tin đã biến những sợi dây điện, sóng vô tuyến thành mạch máu của chiến dịch, mang theo ý chí quyết chiến, quyết thắng đến mọi chiến trường. Sự cống hiến của họ là một phần không thể tách rời, góp phần làm nên thắng lợi vang dội, khẳng định tinh thần và trí tuệ của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Ông kể lại: “Những năm tháng ấy khó khăn vô cùng, người miền núi cũng như miền xuôi phải chạy ăn từng bữa, rau rừng, quả dại cũng là thức ăn qua cơn đói lòng.

Miếng cơm độn sắn, bữa cháo loãng, cái đói, cái rét thấu xương nơi rừng sâu, bệnh tật hoành hành (đặc biệt là sốt rét). Sự khác nghiệt của nơi rừng núi buộc các chiến sỹ ta phải vừa chiến đấu chống giặc vừa phải chống lại gian nan thử thách của thiên nhiên. Nhưng những người hùng như cụ Đương hay  các cựu chiến binh khác đâu vì khó khăn này mà bỏ cuộc vì trong tim họ, suy nghĩ của họ lúc bấy giờ chỉ có một lý tưởng duy nhất đó là “sống chiến đấu hết mình vì độc lập, tự do của đất nước”.

 

Ở nơi chiến trường khốc liệt ấy bộ đội ta lại được tiếp sức bởi tình đồng chí đồng đội:

                                       “Anh với tôi đôi người xa lạ

                                 Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”.

Họ từ những những người xa lạ giờ đây lại trở nên thân thiết, gắn bó, đoàn kết cùng nhau vượt qua gian nan thử thách của thiên nhiên, cùng

nhau góp sức chiến đấu hết mình:

                               “Đêm nay rừng hoang sương muối

                                 Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

  Đầu súng trăng treo”.

Tình đồng chí của họ cũng giống như tình đồng chí trong những câu thơ trên trích từ bài thơ “Đồng chí”  của Chính Hữu bởi có lẽ chiến tranh đã làm cho họ càng trở nên xích lại gần nhau tạo nên sức mạnh chiến đâu bất khuất.

Có lẽ đối với cụ Đương tuổi trẻ của mình đã thật rực rỡ vì đã góp phần nào vào cuộc thắng lợi của cuộc kháng chiến cùng với những kỉ niệm cùng đồng chí đồng đội. Tuổi trẻ của của họ còn bao nhiêu điều giang dở hứa hẹn và họ đã đi theo tiếng gọi của Tổ Quốc, hỏi họ có tiếc nuối không, họ trả lời:

                     “Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình

                       Những tuổi hai mươi làm sao không tiếc

                        Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc?”

                                            (Trích Khúc bảy của Thanh Thảo)

Công sức to lớn của cụ cũng như bao cựu chiến binh khác có ý nghĩa to lớn với hòa bình, độc lập hôm nay và sẽ là người mà chúng cháu hôm nay luôn biết ơn và nhớ đến.

Sau cuộc chiến, ông chọn ở lại Điện Biên an cư, một cơ duyên đặc biệt đã giúp ông gặp người vợ của mình tại Điện Biên, bà khi ấy là dân công hỏa tuyến và bất ngờ thay, khi hỏi quê quán mới  biết bà cũng là người Xuân Quang, Chiêm Hóa. 2 con người mảnh đất nơi chiến trường, xin vào công tác tại nông trường Điện Biên, 2 người con trai cũng ra đời tại đây, ghi dấu tình yêu của ông bà dành cho nhau, dành cho mảnh đất tưởng như xa lạ thế nhưng lại chung 1 quê hương, để rồi ông bà cùng quyết định ở lại  Tây Bắc xinh đẹp này.

(Nguồn ảnh: cổng thông tin điện tử phường Minh Xuân, Tuyên quang)

Ông Hà Kim Son, con trai cả của cựu chiến binh Hà Kim Đương năm nay cũng đã bước qua tuổi 60, có cháu nội, cháu ngoại sum vầy sớm tối, bản thân ông Son cũng từng là quân nhân, tham gia chiến đấu ở biên giới Tây Nam, giáp với Campuchia. Ông Son chia sẻ: “Gia đình tôi bây giờ tứ đại đồng đường, tôi hạnh phúc vì cha vẫn còn minh mẫn, khỏe mạnh, vui vầy bên con, cháu, chắt. Cha luôn là niềm tự hào của cả gia đình, mỗi dịp tháng 5 về, nghe ông kể lại chuyện ở chiến trường xưa cả nhà ai cũng xúc động". Cha tôi kể lại rằng vào năm 1963, tôi bị một đợt ốm kéo dài, cha mẹ lo lắng nên mới thu xếp tư trang, nhà cửa từ Điện Biên chuyển về quê nhà ở Xuân Quang, Chiêm Hóa.

Cha mẹ tôi ngày ấy đều được học qua trường lớp nên đã nhận công việc làm thầy giáo làng, dạy vỡ lòng cho lũ trẻ trong thôn, trong xã, đồng thời cũng dạy cho cả những người lớn ở lớp bình dân học vụ”.

Thầy giáo Hà Kim Đương ngày ấy rất được lòng học trò bởi ông dạy rất dễ hiểu, dễ nhớ, từ lớp vỡ lòng của ông, bao đứa trẻ đã biết được cái chữ, viết được họ tên mình, biết đọc sách, biết tính toán nhân chia. Ở bản vùng cao khi ấy, biết chữ quả thật đã tạo nên sự thay đổi to lớn trong cả cộng đồng.

Sau quãng thời gian dạy học ông Đương tham gia một số công việc ở xã, đến tuổi nghỉ hưu, ông lại tham gia công tác ở Hội cựu chiến binh xã và Hội Người cao tuổi, dù ở vai trò nào ông cũng luôn hoàn thành tốt trách nhiệm và nghĩa vụ được giao, được người dân trong thôn, trong xã tin yêu, kính trọng.

 

(Nguồn ảnh: cổng thông tin điện tử phường Minh Xuân, Tuyên quang)

Cựu chiến binh Hà Kim Đương, cũng như bao chiến sĩ Điện Biên may mắn còn sống đã lựa chọn trở về quê hương với cuộc sống bình dị tiếp tục những công việc thầm lặng. Dù ở cương vị nào, những chiến sĩ Điện Biên năm xưa vẫn giữ vững bản chất Bộ đội Cụ Hồ, là những công dân gương mẫu, đóng góp công sức của mình xây dựng quê hương, đất nước, là những tấm gương sáng cho con cháu noi theo.

 

Trò chuyện cùng ông, chúng tôi thấy những chiến sĩ anh hùng thuở ấy hiện ra thật sinh động, mộc mạc và gần gũi. Tinh thần "quyết chiến quyết thắng" của quân và dân ta trong chiến dịch Điện Biên Phủ mãi là tượng đài bất tử, là niềm tự hào bất diệt của lớp lớp thế hệ người Việt. Cầm trên tay tấm ảnh về thăm lại chiến trường xưa, ông rưng rưng xúc động, rồi ông đọc cho chúng tôi nghe những câu thơ trong bài thơ “Trở lại Điện Biên” của nhà thơ Anh Ngọc:

“…Chỉ thấy một vùng cỏ biếc non tơ

Mây trắng bay, mây trắng đến không ngờ

Cành phượng rủ một chùm hoa đỏ chót

Chỉ có thế thôi ư

Mà chính là A1

Mà chính là Him Lam…”

Điện Biên hôm nay đẹp đến vô cùng, nắng trải dài trên sóng lúa mênh mông. Thời gian có thể làm phai mờ nhiều điều. Song với những người lính Điện Biên, thời hoa lửa đó là kí ức rực rỡ nhất của một cuộc đời. Một thời tuổi trẻ không tiếc máu xương, cống hiến hết mình cho Tổ quốc, làm nên chiến thắng "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu".

Qua những câu chuyện chân thực, xúc động của các Cựu chiến binh, Thương binh, Bệnh binh và Người có công, chúng ta đã được đi ngược thời gian, trở về với "Thời lửa" của cuộc Kháng chiến chống Pháp (1945-1954), đặc biệt là chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. Mỗi lời kể không chỉ là một mảnh ghép của lịch sử hào hùng dân tộc, mà còn là một bài ca về lòng dũng cảm và tinh thần chiến đầu của cựu chiến binh Hà Kim Đương – quyết tâm sẵn  sàng xả thân vì đất nước. Chiến tranh đã lùi xa, nhưng những vết thương không tiếng súng vẫn còn hằn sâu. Tuy nhiên, điều đáng kính phục hơn cả là ý chí "Tàn nhưng không phế" của thế hệ ấy. Họ không chỉ là những anh hùng của quá khứ, mà còn là những tấm gương sáng ngời của hiện tại: tích cực tham gia phát triển kinh tế, xây dựng gia đình hạnh phúc, và kiên trì truyền "lửa" truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ.Di sản lớn nhất mà họ để lại không phải là những huân chương, mà chính là lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần quả cảm, và đạo lý nhân nghĩa. Việc sưu tầm, ghi chép những câu chuyện này là hành động thiết thực nhất để bảo tồn một kho tàng văn hóa và tinh thần vô giá.

Xin được tri ân sâu sắc đến thế hệ đi trước. Kế thừa di sản đó, thế hệ hôm nay nguyện sẽ sống xứng đáng với những hy sinh cao cả, ra sức xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam hòa bình, giàu đẹp.

 

Người viết: Thảo Bàn Thị Thảo

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn